ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I I – Môn Ngữ văn 11- Ban cơ bản

By Đinh Hà Triều

SỞ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH

TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU 

 

                                                               ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I I –                        

 

                                                             Môn Ngữ văn 11- Ban cơ bản

 

 

                                        (Thời gian làm bài 90 phút không kể thời gian giao đề)

 

 

 

Mã đề: 135                                                                    

PHẦN I: TRẮC NGHIỆM ( 3 điểm)

 

Ô TRẢ LỜI TRẮC NGHIỆM

 

Câu

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Đáp án

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1. Cái độc đáo nhất của bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác của Ăng-ghen so với bài điếu văn thông thường là:

A. Tác giả đã vận dụng một nghệ thuật lập luận khéo léo đạt hiệu quả tác động cao.

B. Tác giả đã tô đậm sự bi thảm của cái chết để bày tỏ lòng thương tiếc đối với người đã khuất.

C. Tác giả không nói nhiều về cái chết mà nhấn mạnh ý nghĩa của sự sống của cuộc đời người quá cố.

D. Cả B và C

 

2. Dòng nào viết không đúng về loại văn bản  tiểu sử tóm tắt ?

A. Tiểu sử tóm tắt phải do chính bản thân viết khi cảm thấy sức khoẻ mình đã suy yếu nghiêm trọng.

B. Tiểu sử tóm tắt không nhất thiết phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

C. Tiểu sử tóm tắt yêu cầu ngắn gọn nhưng đầy đủ chính xác.

D. Tiểu sử tóm tắt không cần nêu đầy đủ chi tiết mọi  quan hệ xã hội của một cá nhân.

 

3. Dòng nào viết đúng nhất về thao tác lập luận bình luận?

A. Bình luận nhìn chung là sự kết hợp của hai kiểu lập luận giải thích và chứng minh

B. Bình luận là trình bày nhận xét đánh giá bàn luận của mình về một vấn đề nào đó.

C. Mục đích của bình luận là giúp cho người nghe (người đọc) hiểu rõ nhận định được nêu.

D. Bình luận giúp cho người nghe (người đọc)  tin rằng vấn đề đang bàn luận là có bằng chứng sự thật.

 

4. Trong đoạn trích Một thời đại trong thi ca Hoài Thanh có viết: “Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta. Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều một điều cần hơn trăm nghìn điều khác [...]”.

Cái “điều cần hơn trăm nghìn điều khác” đó là gì?

A. Một ý thức cá nhân đầy đủ.                                                           B. Một ý thức cộng đồng đầy đủ.

C. Một tình yêu đầy đủ.                                                                     D. Một lòng tin đầy đủ.

 

5. Câu “ Khi Chí Phèo mở mắt thì trời sáng đã lâu. Mặt trời chắc đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ” (Nam Cao - Chí Phèo) biểu hiện nghĩa tình thái gì?

A. Tình cảm thân mật gần gũi.                                  B. Đánh giá sự việc có thực hay không có thực.

C. Khẳng định tính chân thực của sự việc                                D. Phỏng đoán sự việc xảy ra với độ tin cậy nhất định.

 

6. Vào những thập niên đầu thế kỉ X X ai là người phê phán  quan lại …. “Là lũ ăn cướp có giấy phép”

A. Nguyễn An Ninh                B. Phan Châu Trinh    C. Phan Bội Châu                  D. Nguyễn Ái Quốc

 

 7. Sự vận động của cảnh vật và con người từ hai câu đầu đến hai câu cuối trong bài Chiều tối cho thấy đặc điểm gì trong tâm hồn Hồ Chí Minh?

A. Luôn hướng tới lao động hoạt động vận động.   B. Luôn hướng tới con người cảnh vật lao động.

C. Luôn hướng tới sự sống ánh sáng tương lai.      D. Luôn hướng tới niềm vui lạc quan yêu đời.

 

8. Nguyên tắc chung mà Hoài Thanh đưa ra để định nghĩa Thơ mới là gì?

A. Căn cứ vào đại thể                                     B. Căn cứ vào cái hay và nhìn vào  đại thể

 C. Căn cứ vào cái hay                                   D. Căn cứ vào cái hay cái đại thể và cả cái dở cái tiểu tiết 

9.  Một thao tác quan trọng thường được vận dụng trong tranh luận thảo luận. Đó là thao tác gì?

A. Phân tích                                                                  B .Quy nạp      

C .Bác bỏ                                                                      D. So sánh

 

10. Trong nhận xét sau đây có thể điền tên tác giả nào vào chỗ trống: "Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân dù lúc vui hay lúc buồn ………………..cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía."       (Vũ Ngọc Phan _ Nhà văn hiện đại)

A. Hàn Mặc Tử                       B. Huy Cận                             C. Chế Lan Viên                     D. Xuân Diệu        

 11- Từ ngữ nào thể hiện rõ nhất nghĩa tình thái trong các dòng thơ sau:

                  “Trăm năm trong cõi người ta

            Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.

A. khéo là                   B. Trăm năm               C. cõi người ta                        D. Chữ tài chữ mệnh

 

12-  Dòng nào sau đây nêu đúng đặc trưng của văn hình tượng (thơ truyện kịch)?

A- Là sản phẩm của tư duy nghệ thuật sáng tạo ra những hình tượng sinh động đẹp đẽ trước hết để chuyển tải tình cảm cảm xúc thẩm mĩ.

A- Là sản phẩm của tư duy nghệ thuật tác động trước hết đến nhận thức lí trí của người đọc bằng sự lập luận chặt chẽ lí lẽ sắc bén luận cứ xác đáng.

C- Là sản phẩm của tư duy lôgíc tác động trước hết đến nhận thức lí trí của người đọc bằng sự lập luận chặt chẽ lí lẽ sắc bén luận cứ xác đáng.

D- Là sản phẩm của tư duy lôgíc sáng tạo ra những hình tượng sinh động đẹp đẽ trước hết để chuyển tải tình cảm cảm xúc thẩm mĩ.

 

PHẦN II:TỰ LUẬN  (7điểm )

 

Từ cách nhìn cảnh vật phân tích tâm  trạng của Huy Cận trong bài thơ Tràng giang.

 

                    ---------------------------------------  HẾT  …………………………………………..

 

SỞ GIÁO DỤC –ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH

TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU                                        ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN KHỐI 11

                                                                                          HỌC KÌ II -Năm học 2010-2011

( Gồm có 3 trang)

                                   

I.MỤC TIÊU:

1) Kiến thức:

- Phần trắc nghiệm: kiểm tra  kiến thức về tiếng Việt Làm văn Đọc văn  chương trình Ngữ văn  11 – kì II.

 - Củng  cố và nâng cao trình độ làm văn nghị luận về các mặt: xác định đề lập dàn ý diễn đạt…Vận dụng  kiến thức phần văn học Việt Nam trọng tâm là tác phẩm Tràng giang của Huy Cận để  viết  bài văn nghị luận văn học.

 2) Kỹ năng:  Biết vận dụng kiến thức văn học và các thao tác lập luận  để viết một bài văn nghị luận văn học có sức thuyết phục. 

3) Thái độ: Gắn lí thuyết với thực hành làm bài thi nghiêm túc.

 

II.HÌNH THỨC ĐỀ:  trắc nghiệm và tự luận

 

III. THIẾT LẬP MA TRẬN

 

Cấp độ

Tên

Chủ đề

 

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

 

Cộng

Cấp độ thấp

Cấp độ cao

 

TRẮC NGHIỆM Tiếng Việt

 

 

 

-Nghĩa tình thái của câu:

 

 

 

Tổng số câu 2

Số điểm 0 5

 

Số câu: 2

Số điểm: 0 5

 

 

0 5

TRẮC NGHIỆM

 

Đọc văn

-Một thời đại trong thơ ca

-Về luân lí xã hội ở nước ta

- Văn hình tượng

-Ba cống hiến vĩ đại của Các- Mác

-Tác giả Xuân Diệu

-Chiều tối

 

 

 

Tổng số câu 7

Số điểm 1.75

Số câu 4

Số điểm 1 0

 

Số câu 3

Số điểm 0 75

 

 

1 75

TRẮC NGHIỆM Làm văn

-Thao tác bác bỏ

-Tiểu sử tóm tắt

-Thao tác lập luận bình luận

 

 

 

Tổng số câu 3

Sốđiểm 0 75

Số câu 2

Số điểm 0 5

 

Số câu 1

Số điểm 0 25

 

 

0 75

PHẦN TỰ LUẬN

 

 

+Mở bài:

Giới thiệu tác phẩm tác giả vấn đề nghị luận

+Thân bài:

a/Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên sông nước tràng giang.

b/Tâm trạng chính của tác giả

+ Kết bài :  Tóm lại những nét chính về cảnh vật và tâm trạng.

+Thân bài

c/Nguyên nhân của nỗi buồn.

- Vẻ đẹp nghệ thuật của bài thơ

+ Kĩ năng:

Bài làm có kết cấu chặt chẽ bố cục rõ ràng giữa các ý các phần có chuyển ý.

-Chọn dẫn chứng chính xác. Viết có cảm xúc.

 

 

 

 

5 điểm

2 điểm

7 điểm

Tổng số câu

Tổng số điểm

Số câu 6

Số điểm: 1.5

Số câu 6

Số điểm: 1.5

                          Số câu 1

Số điểm 7

10 điểm

Tỉ lệ %

15 %

15%

70%

100%

IV RA ĐỀ

 

 

 

V. XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN ĐÁP ÁN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

PHẦN I:  (TRẮC NGHIỆM) 3điểm

 

MÃ ĐỀ: 135.

 

CÂU

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Đáp án

C

A

B

D

D

B

C

B

C

D

A

A

 

 

PHẦN II: (TỰ LUẬN) 7điểm

1/ Yêu cầu về kĩ năng:

            Thí sinh hiểu đúng yêu cầu của đề bài phải biết cách phân tích  một bài thơ trữ tình biết làm bài nghị luận văn học. Bài làm có  kết cấu chặt chẽ bố cục rõ ràng diễn đạt tốt. Không mắc lỗi chính tả lỗi dùng từ lỗi ngữ pháp chữ viết cẩn thận.

2/ Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh cần nắm những  kiến thức chung về tác phẩm Tràng giang của Huy Cận  (hoàn cảnh ra đời những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật ..). Giới hạn của đề bài là phải từ cảnh vật mà phân tích tâm  trạng của Huy Cận không phải phân tích cả bài thơ.  Bài làm có thể trình bày nhiều hướng khác nhau miễn là nêu được các ý chính sau.         

a/Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên sông nước tràng giang được kết hợp giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại (cần lựa chọn những chi tiết hình ảnh tiêu biểu để phân tích cảm nhận tâm trạng của tác giả.)

b/Tâm trạng chính của tác giả:

            +Nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn

            + Niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời

            + Lòng yêu quê hương đất nước tha thiết của tác giả

 c/Nguyên nhân của nỗi buồn:

            + Nỗi buồn của một người dân  mất nước mất tự do.

            + Nỗi buồn thời đại của một thế hệ thanh niên trí thức không tìm thấy hướng đi trong hoàn cảnh xã hội (1930-1945). So sánh với các nhà thơ khác .

 

Chuẩn cho điểm bài văn

Điểm 7 -6: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên cảm nhận sâu sắc phong phú và chính xác văn viết có cảm xúc. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.

Điểm 5- 4: Hiểu được yêu cầu cơ bản của đề bài. Tỏ ra nắm được nội dung chính của đề. Hành văn chưa     trôi chảy nhưng diễn đạt được ý có mắc vài lỗi chính tả dùng từ .

Điểm 1-2 : Chưa hiểu đề chưa nắm được tác phẩm phân tích quá sơ sài. Diễn đạt quá kém chữ viết cẩu thả.

Điểm 0: Không viết được gì cả.

 

…………………………………………. Hết  …………………………………………….

 

More...

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II- LỚP 10 Năm học 2010-2011

By Đinh Hà Triều

Sở GD & ĐT Bình Định                                       ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II- Năm học 2010-2011

Trường THPT....................                                  MÔN NGỮ VĂN- Lớp 10 - Ban cơ bản

 

 

SỐ BÁO DANH:…………………

 

 

                                                   Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)

 

 

 

MÃ ĐỀ: 144

PHẦN I- TRẮC NGHIỆM (3 điểm):

 

Ô TRẢ LỜI TRẮC NGHIỆM

Câu

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Đáp án

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1. Theo anh (chị) việc đốt đền của nhân vật Ngô Tử Văn thể hiện điều gì?

A. Thể hiện quan điểm và thái độ của người trí thức muốn đả phá sự sùng tín của quần chúng bình dân.

B. Thể hiện sự khảng khái chính trực và  dũng cảm vì dân trừ hại.

C. Thể hiện tính hiếu thắng muốn làm chuyện khác người để nổi tiếng.

D. Thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ qua việc diệt trừ hồn tên giặc xâm lược hung bạo bảo vệ Thổ Thần nước Việt người từng có công giúp Lý Nam Đế chống ngoại xâm.

2- Văn học viết Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX (văn học trung đại) được chia làm:

A- 2 giai đoạn            B- 3 giai đoạn                C- 4 giai đoạn                                 D- 5 giai đoạn

3- Các tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du là:

A- Thượng kinh kí sự; Vũ trung tùy bút; Thanh Hiên thi tập

B- Truyền kì mạn lục; Bạch Vân am thi tập; Nam trung tạp ngâm

C- Thanh Hiên thi tập; Nam trung tạp ngâm; Bắc hành tạp lục

D- Nam trung tạp ngâm; Bắc hành tạp lục; Đoạn trường tân thanh

4- Dòng nào sau đây sắp xếp các đoạn trích theo đúng thứ tự trước sau trong văn bản Truyện Kiều

A- Trao duyên; Nỗi thương mình; Thề nguyền Chí khí anh hùng

B- Trao duyên ; Thề nguyền;  Nỗi thương mình   Chí khí anh hùng  

C- Thề nguyền            ; Trao duyên;  Nỗi thương mình;  Chí khí anh hùng

D- Cả a b c đều sai

5. Dòng nào dưới đây không phải là biểu hiện của cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam?

A. Ý thức độc lập tự chủ tự cường tự hào dân tộc; tự hào trước truyền thống lịch sử.

B. Tình yêu thiên nhiên đất nước; Lòng căm thù giặc tinh thần quyết chiến quyết thắng.

C. Tự hào trước chiến công thời đại; biết ơn ca ngợi những người đã hi sinh vì đất nước.

D. Cảm thông với nỗi khổ của con người đặc biệt là những người nhỏ bé bất hạnh.

6. Điền từ thích hợp vào chỗ trống : “Vào nửa đầu thế kỉ XVII một số giáo sĩ phương Tây đã dựa vào ……………..  xây dựng nên  một thứ chữ mới để ghi âm tiếng Việt”.  

A.Tiếng Pháp                              B. Tiếng Anh          C. Tiếng Bồ Đào Nha           D. Bộ chữ cái La tinh

7.“Hai vị thánh quân” được nói trong bài “Phú sông Bạch Đằng” là :

A. Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông.                  B. Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông

C. Trần Thánh Tông và Trần Quốc Tuấn                   D. Ngô Quyền và Trần Nhân Tông

8- Chọn câu viết sai :

A. Trong tác phẩm Truyện Kiều Nguyễn Du đã mô tả sâu sắc xã hội phong kiến thối nát.
B. Trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du đã mô tả sâu sắc xã hội phong kiến thối nát.
C- Tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du đã mô tả sâu sắc xã hội phong kiến thối nát.

D- Nguyễn Du qua tác phẩm Truyện Kiều đã mô tả sâu sắc xã hội phong kiến thối nát

9- Điều cấm kị khi tạo một văn bản thuyết minh là :

A- Phỏng đoán hư cấu khoa trương                         B- Chưa chú ý nhiều về tính chuẩn xác về tri thức

C- Chưa chú ý nhiều về tính mạch lạc                       D- Chưa gây được sự hấp dẫn của văn bản

10- Dạng đề văn nào sau đây đòi hỏi vận dụng phương pháp thuyết minh ?

A- Cảm nhận về bài thơ “Tỏ lòng” (Phạm Ngũ Lão)                        B- Vẻ đẹp một bài ca dao

C- Bình luận câu tục ngữ « Có học phải có hạnh »               D- Giới thiệu về Truyện Kiều

11- Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là :

A- Tính hình tượng tính đa nghĩa tính hàm súc      B- Tính hình tượng tính truyền cảm tính cá thể hoá

C- Tính hình tượng tính truyền cảm tính cá thể      D- Tính hình tượng tính đa nghĩa tính truyền cảm

12-“/…/ là chia vấn đề cần bàn luận ra thành các bộ phận để có thể xem xét một cách cặn kẽ và kĩ càng”

A- Phân tích                            B- Tổng hợp               C- Diễn dịch                           D- Quy nạp                 

 

PHẦN II:TỰ LUẬN: (7 điểm)

                          Cảm nhận của anh (chị ) về tâm trạng nhân vật Thúy Kiều qua đoạn thơ sau:

                                                    “Cậy em em có chịu lời

                                                Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

                                                         Giữa đường đứt gánh tương tư

                                               Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

                                                         Kể từ khi gặp chàng Kim

                                               Khi  ngày quạt ước khi đêm chén thề

                                                        Sự đâu sóng gió bất kì

                                               Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

                                                       Ngày xuân em hãy còn dài

                                               Xót tình máu mủ thay lời  nước non.

                                                       Chị dù thịt nát xương mòn

                                               Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

                                                       Chiếc vành với bức tờ mây

                                              Duyên này thì giữ vật này của chung.

                                                       Dù em nên vợ nên chồng

                                               Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

                                                      Mất người còn chút của tin

                                               Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”

                                              […]

                                                                                        ( “ Trao duyên” Truyện Kiều- Nguyễn Du)

 

                           ------------------------------------    HẾT  -----------------------------------

 

SỞ GIÁO DỤC –ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH

TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU                                        ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN KHỐI 10

                                                                                          HỌC KÌ II -Năm học 2010-2011

(Gồm 3 trang)

MA TRẬN + ĐÁP ÁN

I- MA TRẬN ĐỀ

 

       Mức độ   

 

 Chủ đề

Nhận biết

 

Thông hiểu

̣n dụng

Cộng

TN

TN

TL

1. Tiếng Việt:

-Lịch  sử phát triển của tiếng Việt; ngữ pháp; phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

- Chữ quốc ngữ

- Đặc trưng PCNNNT

- Nhân diện câu đúng/sai

 

 

 

Số câu

Số diểm

   3 = 0 75 đ

 

 

0 75 điểm

2 .Đọc văn:

- Khái quát văn học TĐ

 

 

- Phú sông BĐ

 

-Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên

- Nguyễn Du và Truyện Kiều

 

 

- 4 giai đoạn VHTĐ (1câu)

- Nội dung yêu nước (1 câu)

- Phú sông BĐ (1câu)

- Ý nghĩa việc làm của Ngô Tử Văn (1 câu)

- Thơ chữ Hán ND (1 câu)

- Trích đoạn TK (1 câu)

 

 

 

 

Số câu - Số diểm

 

 

  6 câu = 1 5 điểm

 

 

1 5 điểm

3. Làm văn:

- Văn thuyết minh

 

- Thao tác nghị luận

- Nghị luận văn học

 

- Dạng đề văn thuyết minh

-Thao tác nghị luận

 

 

- Yêu cầu đối với VBTM

 

 

 

 

 

 

- Viết bài văn NLVH phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình nghệ thuật thể hiện nội tâm nhân vật

 

 

Số câu - Số diểm

2 câu = 0 5 đ

 

1 = 0 25 đ

 

1 câu = 7 0 điểm

7 75 điểm

Tổng cộng

 

11 câu

 = 2 75 điểm

1 câu

 = 0 25 điểm

1 câu

 = 7 điểm

10 điểm

Tỉ lệ 

27 5%

2 5%

70%

100%

 

 

II- ĐÁP ÁN

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (3 điểm): Mỗi câu đúng được 0 25 điểm.

MÃ ĐỀ: 144

Câu

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

ĐA

B

C

C

C

D

D

A

B

A

D

B

A

 

II. PHẦN TỰ LUẬN (7 điểm):

1. Yêu cầu:

a) Về kĩ năng:

 Biết cách nêu cảm nhận về một nhân vật văn học trong truyện thơ.

 Văn viết có cảm xúc bố cục chặt chẽ lôgic ít mắc lỗi diễn đạt

b)Về nội dung:

         Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo một số ý chính :

        Mở bài: Đời Kiều là một tấm gương oan khổ. Số phận Kiều hội đủ những bi kịch của người phụ nữ. Và một trong những bi kịch lớn ấy là bi kịch tình yêu tan vỡ thể hiện rõ nhất trong đoạn trích “ Trao duyên”.

        Thân bài: ( Có thể nêu cảm nhận ở các khía cạnh như sau)

  + Kiều nhờ cậy Thúy Vân nhận lời nối duyên với Kim Trọng. Kiều đã rất tinh tế khi dùng từ “ cậy” “ chịu” “lạy- thưa” để  ràng buộc Vân. Cách thỉnh cầu vừa lạ lùng vừa hợp lí ấy  giúp người đọc nhận ra một nàng Kiều tinh tế sâu sắc. Kiều ý thức được gánh nặng sắp trao cho em và  thấu hiểu  tình thế khó xử của Vân

+Kiều nhắc nhở mối tình của mình với chàng Kim ( chú ý  biện pháp điệp từ ‘khi”: khi gặp khi ngày khi đêm nói lên sự thề ước sâu nặng của Kiều và Kim Trọng)  và Kiều đã đưa ra lí lẽ để thuyết phục em ( Kiều đã lay động ở Vân tình cảm chị em ruột thịt Kiều còn dùng cái chết của mình để nói lên sự toại nguyện nếu Vân nhận lời- Lời thỉnh cầu của Kiều vừa chân thành vừa ràng buộc thiết tha)

+Tâm trạng của Kiều khi trao những kỉ vật tình yêu: Kiều như sống lại những kỉ niệm cũ- kỉ niệm của những ngày hạnh phúc rực rỡ trong  quá khứ để rồi giật mình đau khổ khi phải chia li với những hạnh phúc ấy. Đặc biệt khi trao kỉ vật cho Vân Kiều vẫn còn lưu luyến: nửa trao nửa níu giằng xé trong tâm hồn Kiều ( Lí trí tỉnh táo quyết định trao duyên cho em  nhưng Kiều vẫn muốn giữ lại một chút cho riêng mình vẫn muốn hiện diện trong tình yêu của Kim Trọng)

+ Cảm nhận được nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích ( nghệ thuật miêu tả quá trình trao duyên: Ở đây Nguyễn Du miêu tả quá trình trao duyên như một quá trình tự ý thức về bi kịch tình yêu tan vỡ của mình. Kiều tâm sự với Vân nhưng thực ra là tự bộc lộ phơi bày tâm tư tình cảm và khát vọng sâu kín của mình. Kiều đã tỉnh táo khi cầu khẩn em nhận lời   nhưng rồi sau đó Kiều lại để con tim mình lên tiếng khi trao kỉ vật.

 Kết bài: Khẩn khoản nài em nhận lời trao kỉ vật cho em lí trí Kiều bảo phải trao nhưng tình cảm thì muốn níu giữ vì trong lòng luôn khát khao hạnh phúc yêu đương: Tình yêu dù tan vỡ nhưng khát vọng về một tình yêu thủy chung son sắt không thể nào dứt đoạn

     

2. Biểu điểm:

Điểm 7-6 : Có tư duy cảm nhận riêng. Bố cục bài viết rõ ràng diễn đạt mạch lạc dẫn chứng chính xác không mắc lỗi chính tả.

Điểm 5- Bài viết có bố cục rõ ràng mạch lạc có cảm xúc nhưng chưa nhiều sai từ 1-3 lỗi chính tả diễn đạt.

Điểm 3- 4: Hiểu và đáp ứng được yêu cầu của đề bài nhưng khai thác ý chưa sâu sắc phân tích đôi chỗ sơ sài dẫn chứng chưa chính xác mắc trên 3 lỗi chính tả.

Điểm 1-2: Chưa nắm vững và chưa đáp ứng được 1/3 yêu cầu. Nhận thức nhiều chỗ sai lệch lạc đề sai  nhiều lỗi chính tả diễn đạt vụng về.

Điểm 0: Bỏ giấy trắng hoặc viết vài dòng lấy lệ./.

 

                 -------------------------------- HẾT ---------------------------------

 

More...

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II - lớp 12 NĂM HỌC 2010 - 2011-TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU

By Đinh Hà Triều

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH                              

TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU                         ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II NĂM HỌC 2010 - 2011
                                                                   MÔN: NGỮ VĂN LỚP 12- Ban cơ bản
                                                                               ------------------------

                                                             
                                                      ĐỀ CHÍNH THỨC
                             Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian giao đề)

Câu 1 (2 điểm)
a- Đoạn trích truyện “Ông già và biển cả” (Hê-minh-uê) trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 kể lại sự việc gì ? Sự việc ấy diễn ra vào thời gian nào trong chuyến ra khơi của ông lão?

b- Qua sự việc ấy anh (chị) nhận thấy nhân vật Xan-ti-a-go là  người như thế nào ?

Câu 2 (1 điểm)

- Ngày Thanh minh năm sau người mẹ Hạ Du nhìn thấy có vòng hoa trên mộ con mình.

- Kết thúc chiến tranh A. Xô-cô-lốp nhận bé Va-ni-a làm con và hết lòng yêu thương chăm sóc nó.

- Sau 84 ngày đen đủi ông lão Xan-ti-a-go đã đánh bắt được con cá lớn nhất đời mình.

          Qua cả ba sự việc trên anh (chị) nhận ra nét chung nào trong ý tưởng của các tác giả. Hãy viết một đoạn văn (từ 3 đến 5 câu)  để nói lên điều cảm nhận đó.


Câu 3 (7 điểm):
            Khép lại tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu viết:
“Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng và nếu nhìn lâu hơn bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi bàn chân giậm trên mặt đất hòa lẫn trong đám đông …”
            Hãy phân tích ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng ở đoạn văn trên để thấy quan niệm của tác giả về nghệ thuật.

                                                              … … … .HẾT. … … …

 

 

 

 

MATRẬN ĐỀ

 

                             Mức độ KT-KN

 

 

Chủ đề

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng

Tổng

Đọc văn

Câu 1:

Sự việc thời gian trong đoạn trích truyện Ông già và biển cả của Hê-minh-uê và đặc điểm tính cách nhân vật Xan-ti-a-go

Câu 2-

Nét chung  trong ý tưởng của các tác giả:

Niềm tin vào tương lai một khi con người có ý chí nghị lực tài năng lòng nhân hậu và sự thức tỉnh.

 

 

1 câu= 2 0 đ

1 câu= 1 0 đ

 

3 0 đ

Làm văn: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm tự sự

 

 

Vận dụng những kiến thức về tác giả tác phẩm về đặc trưng thể loại kết hợp các thao tác NL và phương thức biểu đạt biết cách làm bài nghị luận văn học

 7 0

điểm

Tổng số

2 0 điểm

1 0 điểm

7 0 điểm

10 điểm

Tỉ lệ %

20%

10%

70%

100%

 

 

 

 

                                                   HƯỚNG DẪN CHẤM

 

I. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Đề bài gồm 3 câu : câu 1 câu 2 kiểm tra kiến thức văn học; câu 3 là bài nghị luận văn học.

Câu 1 câu 2 chủ yếu yêu cầu tái hiện thông hiểu kiến thức nhưng cũng đặt ra yêu cầu về diễn đạt. Những HS diễn đạt trôi chảy đúng chính tả ngữ pháp mới được điểm tối đa.

Câu 3 là bài làm văn vừa kiểm tra kiến thức văn học kĩ năng diễn đạt và kĩ năng lập luận của HS.
- Giám khảo cần nắm nội dung bài làm của HS để đánh giá tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng sáng tạo.
 Thí sinh có thể trình bày theo các cách riêng nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.

II- HƯỚNG DẪN CỤ THỂ:

 

Câu 1(2 0):

a- Sự việc: kể lại việc ông lão Xan-ti-a-gô giành chiến thắng cuối cùng trong cuộc đọ sức dai dẳng với con cá kiếm.(0 5đ). Sự việc này diễn ra vào buổi sáng ngày thứ 3 trong chuyễn ra khơi của ông lão (0 5đ).
b- Xan-ti-a-go là một ngư phủ lành nghề là người dũng cảm mưu trí kiên trì giàu ý chí nghị lực giàu khát vọng …(1 0)
(Lưu ý: Chấp nhận các cách đánh giá hợp lí khác về nhân vật. )

 

Câu 2 (1đ): HS viết được đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) để nêu được nét chung trong  ý tưởng của các tác giả: Niềm tin vào tương lai một khi con người có ý chí nghị lực tài năng lòng nhân hậu và sự thức tỉnh.

Câu 3 (7đ): Phân tích ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng ở đoạn văn cuối tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa để thấy quan niệm của tác giả Nguyễn Minh Châu về nghệ thuật.

a-     Yêu cầu chung về kĩ năng
- Nắm phương pháp làm bài nghị luận văn học.
- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (chứng minh bình luận so sánh mở rộng vấn đề… ). Đặc biệt thí sinh phải nắm vững thao tác phân tích một nhân vật trong tác phẩm tự sự và phân tích tác phẩm tự sự.
- Văn trôi chảy lập luận chặt chẽ dẫn chứng thuyết phục.
- Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả dùng từ; trình bày bài rõ ràng.
b. Yêu cầu về nội dung

Nội dung cần thể hiện

Điểm tối đa

1- Giới thiệu được vấn đề nghị luận: Ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng ở đoạn văn trên là sự thể hiện một cách hàm ẩn quan niệm của tác giả về nghệ thuật.

 

1 0

 

2

a- Ấn tượng lạ lùng chính là cái nhìn mang “sự ám ảnh sâu sắc” của người nghệ sĩ: Phùng nhìn bức ảnh qua sự ám ảnh đó chứ không nhìn bằng đôi mắt khách quan. Thế nên “mỗi lần ngắm kĩ” là anh đang sống lại với kỉ niệm về tất cả những điều đã xảy ra trong chuyến công tác đáng nhớ.

1 0 

b- Màn sương màu hồng tượng trưng cho nghệ thuật cho cảnh tuyệt đẹp kì thú của thiên nhiên là vẻ đẹp thơ mộng về thuyền và biển mà Phùng đã cất công tìm kiếm và đã thu được vào ống kính; cho niềm hân hoan khi anh phát hiện ra vẻ đẹp nên thơ nơi bờ biển (cảnh một chiếc thuyền ngoài xa trong làn sương sớm có pha đôi chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào mà “từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích” và anh có được cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn vì “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh”.

1 0 

c- Hình ảnh người đàn bà bước ra khỏi tấm ảnh chính là hiện thân của những lam lũ khốn khó đời thường là sự thật cuộc đời đằng sau bức tranh xuất phát từ sự day dứt khôn nguôi của tác giả về người đàn bà vùng biển lam lũ nhẫn nhục nhưng sáng ngời vẻ đẹp của tình mẫu tử của lòng vị tha độ lượng mà Phùng đã trực tiếp chứng kiến.

1 5 

d- Tác giả không trực tiếp phát ngôn cho quan niệm nghệ thuật của mình nhưng qua hệ thống nhân vật của tác phẩm đặc biệt là qua lời tự bạch cuối truyện (đoạn văn trích) đã thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật và cuộc đời: nghệ thuật chân chính phải luôn gắn với cuộc đời vì cuộc đời; người nghệ sĩ cần phải nhìn nhận nghiền ngẫm về cuộc sống và con người một cách toàn diện sâu sắc.

 

1 5 

3- Khái quát đánh giá những vấn đề đã bàn luận.

 1 0 

c/Biểu điểm:

Điểm 7 - 6: Bài viết đáp ứng các yêu cầu nêu trên cảm nhận sâu sắc dẫn chứng chọn lọc văn viết có cảm xúc   ít sai lỗi  chính tả dùng từ diễn đạt .

Điểm 5 - 4: Bài làm  cơ bản đảm bảo nội dung của một bài nghị luận đúng yêu cầu của đề bài dẫn chứng chọn lọc và chính xác lời văn có đôi chỗ còn lúng túng có mắc vài lỗi chính tả dùng từ…

Điểm 3: Bài viết trình bày chưa đầy đủ nhưng tỏ ra có hiểu đề mắc khoảng 5 6 lỗi về hành văn.

Điểm 2-1: Bài làm chưa hiểu đề chưa nắm chắc tác phẩm phân tích sơ sài câu chữ cẩu thả … .

Điểm 0 : Không viết được  gì.

………………………………….Hết…………………………….

More...

MỘT BÀI THƠ VÀ CÁI CHẾT CỦA HAI CHA CON ĐẠI CÔNG THẦN

By Đinh Hà Triều

MỘT BÀI THƠ VÀ CÁI CHẾT

CỦA HAI CHA CON ĐẠI CÔNG THẦN

                                                                                                                          Mộng Đắc

 

Trung tuần tháng Chạp năm Ất Hợi 1815 (niên hiệu Gia Long thứ 14) trong giới quan lại ở Kinh thành Huế xôn xao bàn tán về một vụ âm mưu phản nghịch rất nghiêm trọng. Dư luận cứ nổi cộm dần lên qua những tin phong thanh làm mọi người bàng hoàng lo sợ tưởng như cảnh máu chảy đầu rơi cung điện bị tàn phá đến nơi. Nhưng sau đó người ta có thể yên tâm thở phào nhẹ nhõm vì âm mưu phản nghịch đó đã bị phát giác. Ngạc nhiên hơn khi được biết kẻ âm mưu phản nghịch chính là hai cha con một vị khai quốc công thần quyền cao chức trọng tại triều. Người có công phát giác vụ này cũng là một bậc trụ cột triều đình trong tay lại có chứng cớ hẳn hoi. Vậy sự thật về vụ án này như thế nào?


Chứng cớ là một bài thơ 8 câu như sau:

 

Văn đao Ái Châu đa tuấn kiệt

 

Hư hoài trắc trịch giục cầu ty

 

Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác

 

Thiện tướng phương tri Ký bắc Kỳ

 

Ư cốc hữu hương thiên lý viễn

 

Cao cương minh phượng cửu cao tri

 

Thử hồi nhược đắc sơn trung tể

 

Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.

 

Dịch ra là:

 

Ái Châu nghe nói lắm người hay

 

Ao ước cầu hiền đã bấy nay

 

Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn có

 

Ngựa Kỳ Ký bắc biết đâu thay

 

Mùi hương hang tối xa ngàn dặm

 

Tiếng phượng gò cao suốt chín mây

 

Sơn tể phen này dù gặp gỡ

 

Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.

 

Về mặt văn chương đây là một bài thơ hay. Nhưng ở đây người ta chỉ soi mói nội dung xem dụng ý tác giả là gì? Thực ra bài thơ này tác giả gửi cho bạn ở Ái Châu (Thanh Hóa). Vì từng nghe tiếng là bậc hiền nhân danh sĩ đời nay nên trong lòng mến mộ khát khao được gặp gỡ. Những từ “Ngọc phát Kinh sơn” “Ngựa Kỳ Ký bắc” “Mùi hương hang tối” “Tiếng phượng gò cao” là những lời hoa mỹ dùng để tâng bốc tài năng danh vọng của bạn. Ở đây không thấy một chữ một ý gì tỏ ra chê bai vua chúa hay oán hận triều đình khiến người ta lấy cớ để buộc tội phản nghịch. Thế nhưng vấn đề chết người lại ở hai câu cuối bài:

 

“Thử hồi nhược đắc sơn trung tể

 

Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”

 

Tất cả chứng cớ vụ án bài thơ phản nghịch đều gói gọn trong 14 chữ này. Tích xưa kể lại rằng: Đào Hoằng Cảnh đời Lương Vũ Đế (502-509) tài cao học rộng. Không ra làm quan mà ở ẩn trên núi mỗi khi nhà vua có việc gì khó khăn phải sai người vào núi hỏi ý kiến. Vì thế người đương thời gọi Đào Hoằng Cảnh là Sơn trung tể tướng (quan tể tướng trong núi). Tác giả bài thơ là anh học trò sao lại tham vọng có một vị Sơn trung tể tướng để làm gì? Để “giúp nhau xoay đổi hội cơ này” (Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky). Vậy là nhòm ngó mệnh trời rủ nhau cướp nước làm vua chứ còn gì nữa! Chính cái tham vọng ghê gớm ấy nó chứng tỏ dấu hiệu phạm tội của một âm mưu phản nghịch. Mà dưới chế độ quân chủ độc tôn một lời nói phạm thượng một chữ phạm húy cũng đủ mắc tội chết nữa là một bài thơ “đầy tham vọng” như thế.

 

Tác giả bài thơ này đúng hơn là bị vu cáo là tác giả lại chính là Nguyễn Văn Thuyên con ông Nguyễn Văn Thành Trung quân đô thống tước Quận công. Nguyễn Văn Thành là một người đã từng bôn ba theo Nguyễn Ánh từ thuở hàn vi cho đến khi Nguyễn Ánh thắng được nhà Tây Sơn thống nhất đất nước lên ngôi hoàng đế. Năm Gia Long thứ 10 (1811) vua giao cho Nguyễn Văn Thành chức Tổng tài đứng đầu việc biên soạn bộ luật Gia Long nổi tiếng. Bộ luật này được vua Gia Long phê duyệt và ban hành trong cả nước. Lúc xảy ra vụ án cậu ấm Nguyễn Văn Thuyên ông Nguyễn Văn Thành đang làm quan lớn triều đình. Một điều rất oái oăm là chính vì công danh phú quý to quá mà trong thâm tâm nhà vua không ưa ông lắm. Và ông Nguyễn Văn Thành còn bị nhiều người ghen ghét nhất là đại thần Lê Văn Duyệt. Hai con người này vốn có hiềm khích với nhau từ lâu. Thành tự phụ cho mình hơn văn võ toàn tài con nhà dòng dõi không phải như Duyệt xuất thân từ một anh hoạn thị chỉ nhờ đánh trận giỏi mà trở thành quận công đại tướng ngang bằng mình. Vì vậy Thành tỏ ý khinh bỉ Duyệt làm Duyệt rất ấm ức.

 

Thành có một môn khách tên là Hựu Nghi vẫn lui tới ăn ở trong nhà sau vì lầm lỗi với Thành nên phải bỏ trốn đi lòng đầy thù hận. Hựu Nghi theo về làm môn hạ cho Lê Văn Duyệt được Duyệt tin dùng dần dần cất nhắc đến chức Thiên sự Bộ Hình. Hựu Nghi cho tay chân là Trương Hiệu theo dõi cậu ấm Nguyễn Văn Thuyên con ông Thành. Thuyên đỗ cử nhân từ mấy năm trước nhưng tính tình hào phóng tự do không thích làm quan chỉ thích thơ phú.

 

Thuyên dựng một nếp nhà riêng ngày ngày tụ tập bạn văn nhân thi sĩ xa gần cùng nhau chè chén uống rượu ngâm thơ. Từ hội thơ phú kia mà Lê Văn Duyệt đã có trong tay bài thơ nêu trên do Hựu Nghi và Trương Hiệu mang đến tố giác nói là do Nguyễn Văn Thuyên viết ra. Lập tức Lê Văn Duyệt mang ngay “bài thơ tang chứng” này mật tâu với Gia Long. Lúc đầu Gia Long xem cho là việc chưa rõ ràng nên không tra xét. Về sau Hựu Nghi Trương Hiệu dùng tiền mua chuộc nhiều kẻ ghen ghét khác bảo họ cùng nhau đồng loạt kiện cáo cha con ông Thành. Nhà vua phải đưa vụ án này ra xét xử công khai sau lại giao cho Lê Văn Duyệt đích thân tra hỏi Thuyên buộc Thuyên phải thú nhận tội.

 

Dựa vào cớ con đã phạm tội tày đình đình thần buộc cả tội ông Thành tâu vua xử tử. Đến tháng 5 năm 1817 (niên hiệu Gia Long thứ 16) vụ cha con ông Thành trải qua một năm rưỡi triều thần xử một lần nữa vẫn buộc tội chết. Lại ghép vụ án này với một vụ khác ở Thanh Hóa mà cha con ông Thành không hề dính líu tới.

 

Sau khi xử án lúc về nhà giam ông Thành đã nói: “Án xử như thế là xong rồi. Vua bắt tôi chết mà tôi không chết thì không phải tôi trung”. Ngay hôm đó ông Thành ngồi viết tờ biểu trần tình để lại rồi uống thuốc độc chết. Trong tờ biểu có câu: “Người ta sớm rèn tối luyện thêu dệt ra tội ác cho cha con tôi không còn chỗ kêu ca. Đành chỉ có chết”.

 Mấy hôm sau đến lượt Nguyễn Văn Thuyên bị trói tay gông cổ điệu ra pháp trường để đao phủ cắt từng miếng thịt (tùng xẻo). Trong lúc đó thì Trương Hiệu nghênh ngang vào kho lĩnh thưởng 500 quan tiền. Thế là chỉ vì một bài thơ mà hai cha con đại thần Nguyễn Văn Thành đành ôm mối  hận ngàn thu.

 

Nguồn: thegioitrongta.com

More...

TRUNG QUỐC CÔNG BỐ BẢNG XẾP HẠNG MƯỜI NHÀ VĂN LỚN NHẤT TRONG LỊCH SỬ

By Đinh Hà Triều

TRUNG QUỐC CÔNG BỐ BẢNG XẾP HẠNG MƯỜI NHÀ VĂN LỚN NHẤT TRONG LỊCH SỬ


Báo mạng Trung Quốc www.xooob.com đã giới thiệu những kiểu phân loại văn học từ xưa đến nay ở Trung Quốc và công bố Bảng xếp hạng Mười   nhà văn nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Văn học cổ đại Trung Quốc phân thành Thi và Văn văn lại phân thành Vận văn  và Tản văn (văn vần và văn xuôi). Văn học hiện đại nói chung phân thành: Thi ca Tản văn Tiểu thuyết Hý kịch đồng thời gọi là bốn thể tài lớn của văn học. Thơ trữ tình và Tản văn (gọi chung là cổ văn) của Trung Quốc phát đạt từ rất sớm.

Dưới đây là Bảng xếp hạng Mười nhà văn (văn học gia) nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc:

1- Khuất Nguyên

2- Tư Mã Thiên

3- Đào Uyên Minh

4- Lý Bạch

5- Đỗ Phủ

6- Bạch Cư Dị

7- Hàn Dũ

8- Âu Dương Tu

9- Tô Thức

10- Tào Tuyết Cần

Dưới đây là phần tóm tắt thân thế và sự nghiệp của mười  nhà văn trong bảng xếp hạng này.

1 - Khuất Nguyên

Khuất Nguyên (khoảng năm 340 TCN- khoảng năm 278 TCN) dân tộc Hán người Đơn Dương nước Sở thời kỳ Chiến Quốc họ Khuất tên Bình tự Nguyên; Còn tự đặt tên là Chính Tắc tự Linh Quân. Khuất Nguyên là đời con của Khuất Giả con trai của Sở Võ Vương  Hùng Thông. Khuất Nguyên nêu cao chủ trương liên minh với nước Tề chống lại nước Tần đề xướng “mỹ chính” (cai trị đất nước bằng xây dựng tình cảm  yêu cái đẹp).

Khuất Nguyên là một trong những nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa vĩ đại nhất Trung Quốc cũng là thi nhân lừng danh và nhà chính trị vĩ đại sớm nhất của Trung Quốc. Ông sáng lập thể loại văn học “Sở từ” (cũng chính là sáng lập thể loại văn học “Từ phú”) cũng khai sáng truyền thống “Thảo hương mỹ nhân” (bù nhìn bằng cỏ thơm).

“Ly Tao” “Cửu Chương” “Cửu Ca” “Thiên Vấn” là những tác phẩm tiêu biểu chủ yếu nhất của Khuất Nguyên. “Ly Tao” là bộ thơ trữ tình dài nhất của Trung Quốc. Những tác phẩm của Khuất Nguyên mà hậu thế xem được đều xuất hiện ở trong bộ sách “Sở Từ” do học giả Lưu Hướng thời Tây Hán biên tập. Bộ sách này chủ yếu là tác phẩm của Khuất Nguyên trong đó có một thiên “Ly Tao” mười một thiên “Cửu Ca” (“Đông Hoàng Thái nhất” “Vân Trung Quân” “Tương Quân” “Tương phu nhân” “Đại Tư mệnh” “Thiếu Tư mệnh” “Đông Quân” “Hà Bá” “Sơn Quỷ” “Quốc Táng” “Lễ Hồn”) chín thiên “Cửu Chương” (Tịch dũng” “Thiệp Giang” “Ai Sính” Trừu tư” Hoài sa” “Tư mỹ nhân” “Tịch vãng nhật” “Triết tụng” “Bi hồi phong”) một thiên “Thiên vấn” v.v…

Hồi trẻ Khuất Nguyên được vua Sở Hoài Vương tín nhiệm bổ nhiệm làm Tả đồ Tam lư đại phu thường xuyên cùng Sở Hoài Vương thương nghị quốc sự tham gia xây dựng pháp luật chủ trương pháp luật nghiêm minh cử tuyển sử dụng hiền tài cải cách chính trị liên minh với nước Tề chống lại nước Tần. Đồng thời Khuất Nguyên chủ trì công tác ngoại giao chủ trương nước Sở liên hiệp với nước Tề cùng nhau ngăn chặn chống lại nước Tần.

Với sự nỗ lực của Khuất Nguyên sức mạnh của nước Sở được tăng cường đáng kể. Nhưng do bản thân tính tình cương trực cộng với sự dèm pha và phỉ báng của người khác Khuất Nguyên dần dần bị Sở Hoài Vương xa lánh. Năm 305 trước Công nguyên Khuất Nguyên phản đối Sở Hoài Vương ký liên minh Hoàng Sắc với nước Tần song nước Sở vẫn triệt để ngả theo nước Tần. Khiến cho Khuất Nguyên bị Sở Hoài Vương trục xuất ra khỏi Sính Đô lưu lạc ở Hán Bắc.

Trong thời gian Khuất Nguyên bị trục xuất khỏi Sính Đô lưu đày Khuất     Nguyên cảm thấy trong lòng u uất bắt đầu sáng tác văn học trong tác phẩm tràn đầy nỗi lòng quyến luyến đất nước và phong cảnh nước Sở và nhiệt tình vì dân báo quốc.

Tác phẩm của ông văn tự hoa lệ tưởng tượng đặc biệt kỳ lạ tỉ dụ mới mẻ nội     hàm sâu sắc trở thành một trong những khởi nguồn của văn học Trung Quốc.

Năm 278 trước Công nguyên đại tướng Bạch Khởi nước Tần chỉ huy đại quân tiến đánh phía nam công phá Sính Đô. Trong lòng tuyệt vọng và bi phẫn Khuất     Nguyên đã ôm tảng đá lớn nhảy xuống sông Mịch La mà chết.

Năm 1953 là năm kỷ niệm lần thứ 2230 năm qua đời của Khuất Nguyên Hội đồng Hoà bình thế giới thông qua quyết nghị xác định Khuất Nguyên là một trong bốn danh nhân văn hoá thế giới được kỷ niệm vào năm ấy.

 

2 - Tư Mã Thiên

Tư Mã Thiên sinh vào khoảng năm 145 TCN qua đời năm 90 TCN hưởng thọ 56 tuổi. Tư Mã Thiên tự Tử Trường là nhà sử học nhà văn học nhà tư tưởng vĩ đại thời Đông Hán.

Tác phẩm “Sử Ký” do ông biên soạn là bộ thông sử thể ký sự đầu tiên của Trung Quốc được Lỗ Tấn ca ngợi là khúc ca tuyệt với của sử gia là “Ly Tao” không vần.”

Tư Mã Thiên là người Long Môn Hạ Dương thời Tây Hán. Hạ Dương (phía nam Hàn Thành tỉnh Thiểm Tây ngày nay) là tên huyện gần sát Long Môn. Cho nên Tư Mã Thiên tự xưng là “Thiên sinh Long Môn” (Lời nói đầu tự truyện Thái Sử công). Long Môn núi Long Môn rất có danh khí. Truyền thuyết kể rằng: Đại Vũ đã từng khai sơn trị thuỷ tại Long Môn. Phía nam núi Long Môn là sông Hoàng Hà.  Gia đình của Tư Mã Thiên ở đúng giữa Hoàng Hà và Long Môn. Danh thắng cổ tích ở địa phương này rất nhiều. Hồi nhỏ được thưởng lãm thăm thú mọi núi sông danh lam thắng cảnh đồng thời Tư Mã Thiên cũng có cơ hội nghe được rất nhiều truyền thuyết và truyện lịch sử.

Năm sinh năm mất của Tư Mã Thiên chưa được ghi chép rõ ràng trong chính sử.

Trong tác phẩm “Thái sử công hành niên khảo” học giả Vương Quốc Duy cho rằng Tư Mã Thiên sinh vào năm Trung Nguyên thứ năm thời Hán Cảnh Đế (năm 145 TCN) qua đời vào khoảng năm Sử Nguyên thời Hán Chiêu Đế (năm 86 TCN) hưởng thọ 60 tuổi.

Nghe nói đại gia đình Tư Mã Thiên từ thời Đường Ngu đến thời Chu đều là các nhà lịch sử và nhà thiên văn nối dõi nhiều đời. Tư Mã Thoa là danh tướng phạt Thục thời Tần Huệ Vương. Tư Mã Xương là Thiết quan của Tần Thuỷ Hoàng. Đến phụ thân của Tư Mã Thiên là Tư Mã Đàm lại làm Thái sử lệnh của Hán Võ Đế đã khôi phục chức nghiệp sử quan tổ truyền lâu đời.

 

3 -  Đào Uyên Minh

Đào Uyên Minh (khoảng 365-427) tự Nguyên Lượng cuối đời đổi tên thành Tiềm. Có thuyết nói tên Tiềm tự Uyên Minh. Tự gọi mình là Ngũ Liễu tiên sinh sau khi từ trần bạn bè người thân gọi tên huý là Đoan Tiết cho nên người đời còn gọi là Đoan Tiết tiên sinh. Ông là người Sài Tang Tầm Dương (thành phố Cửu Giang ngày nay) là thi nhân nhà từ phú nhà tản văn cuối thời Đông Tấn đầu thời Nam Triều.

Đào Uyên Minh xuất thân trong một gia đình quan lại sa sút. Cụ ông Đào Khản là công thần khai quốc thời Đông Tấn quân công hiển hách làm quan đến chức Đại Tư mã Đô đốc quân sự 8 châu Thứ sử hai châu Kinh Giang được phong là Trường Sa quận công. Ông nội là Đào Mậu phụ thân Đào Dật đều từng làm Thái thú.

Thời ấu thơ gia đình suy vi lên 9 tuổi cha chết sống với mẹ và em gái. Là cô nhi quả mẫu ba người đa phần sống ở trong nhà ông ngoại là Mạnh Gia. Mạnh Gia là danh sĩ đương thời “không kết bạn tuỳ tiện không phô trương sa sỉ ít khi tươi cười. Nấu rượu ngon uống nhiều mà không say khi đắc chí thìkhông coi ai ra gì” (mục hạ vô nhân). Đào Uyên Minh “biết xử thế thích làm theo ông ngoại.” Sau này cá tính tu dưỡng của ông đều có nhiều điểm giống phong cách của ông ngoại.

Trong gia đình ông ngoại lưu trữ nhiều sách tạo điều kiện cho Đào Uyên Minh đọc sách cổ và tìm hiểu lịch sử. Trong thời đại Lưỡng Tấn học giả tôn sùng “Trang” “Lão” coi thường “Lục Kinh” song ông không giống các sĩ đại phu thông thường học “Lão Tử” “Trang Tử” mà còn học “Lục Kinh” của Nho gia và những loại “sách khác” như văn sử cùng các loại sách thần thoại.

Với ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng thời đại và hoàn cảnh gia đình khiến cho ông tiếp thụ hai loại tư tưởng khác của Nho gia và Đạo gia bồi dưỡng nên hai hứng thú khác nhau là “thăm thú tứ hải” và “yêu thích núi đồi”.

 

4 - Lý Bạch

Lý Bạch (701-762) dân tộc Hán tự Thái Bạch hiệu Thanh Liên Cư Sĩ được mệnh danh là “Thi tiên” sánh vai với Đỗ Phủ nên gọi chung là “Lý Đỗ”. Thân hình cao trên 7 thước (khoảng 1 83 mét). Sinh ra tại Đô hộ phủ Tây An chết tại Diệp Thành thuở nhỏ di cư đến huyện Xương Long Cẩm Châu Tứ Xuyên (thành phố Giang Du tỉnh Tứ Xuyên ngày nay thuyết này do Quách Mạt Nhược là đại biểu; Lại có thuyết cho rằng Lý Bạch sinh ra tại thành phố Giang Du Tứ Xuyên).

Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa vĩ đại thời nhà Đường. Phong cách thơ của ông hào phóng bay bổng tưởng tượng phong phú ngôn ngữ lưu chuyển tự nhiên âm luật hài hoà đa biến. Ông khéo léo hấp thu chất liệu từ trong dân ca thần thoại cấu thành sắc thái lung linh sán lạn chỉ có ở ông là đỉnh cao mới của thi ca lãng mạn chủ nghĩa       tích cực có từ Khuất Nguyên.

Hàn Dũ đã viết: “Lý Đỗ văn chương tại quang diệm vạn trượng trường” (Văn chương của Lý Bạch và Đỗ Phủ còn thì ánh sáng chiếu xa vạn trượng- “Trọc Trương Tịch”).

Vua Đường Văn Tông đã ngự phong Thơ của Lý Bạch Múa kiếm của Bùi Án Thảo thư của Trương Húc là “Tam tuyệt”.

Kiếm thuật của Lý Bạch tại triều Đường có thể xếp thứ nhì (dưới Bùi Án) nhưng nếu như Lý Bạch bỏ văn theo võ chuyên tâm nghiên cứu kiếm thuật tin rằng sẽ không   kém gì Bùi Án. Khi còn trẻ Lý Bạch là một vị hiệp sĩ trên đường gặp sự bất bình bèn   rút đao tương trợ. (Điều này có liên quan đến tư tưởng hiệp sĩ một trong ba tư tưởng lớn của ông) trong “Dã sử” có nhiều ghi chép về phương diện này.

 

5 - Đỗ Phủ

Đỗ Phủ (712-770) dân tộc Hán tự Tử Mỹ người huyện Củng tỉnh Hà Nam (Củng Nghĩa Trịnh Châu ngày nay) người đời gọi là Đỗ Công Bộ Đỗ Thập Di tự gọi  mình là Thiếu Lăng Dã Lão (ông già quê mùa ở Thiếu Lăng) là thi nhân hiện thực chủ nghĩa vĩ đại thời nhà Đường ở Trung Quốc.

Đỗ Phủ là nhà thơ hết lòng vì nước vì dân được người đời mệnh danh là Thi Thánh được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn  hoá thế giới sánh vai với Lý Bạch mệnh danh chung là “Đại Lý Đỗ”.

Quê cha đất tổ của Đỗ Phủ ở Tương Dương (thành phố Tương Phàn tỉnh Hồ Bắc ngày nay) viễn tổ là cụ Đỗ Dự công danh hiển hách thời nhà Tấn ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn thi nhân đầu triều Đường.

Đỗ Phủ đã từng đảm nhiệm Tả Thập Di Kiểm hiệu Công Bộ viên ngoại lang vì thế hậu thế gọi ông là Đỗ Thập Di Đỗ Công Bộ. Đỗ Phủ sinh sống trong thời kỳ lịch sử từ thịnh chuyển sang suy của triều Đường thơ của ông đa số viết về xã hội động loạn    chính trị hắc ám nhân dân thống khổ nên thơ của ông được mệnh danh là “Thi sử”.

Đỗ Phủ lo cho nước lo cho dân nhân cách cao thượng thi nghệ thậm tinh được hậu thế mệnh danh là “Thi Thánh”. Suốt đời Đỗ Phủ viết được trên 1.400 bài thơ trong đó rất nhiều tác phẩm nổi tiếng truyền tụng thiên cổ ví dụ “Tam lại” và “Tam biệt” đồng thời có “Đỗ Công Bộ tập” lưu truyền nhiều đời; Trong đó “Tam lại” là “Thạch Hào lại” “Tân An lại” và “Đồng Quan lại”; “Tam biệt” là “Tân hôn biệt” “Vô gia biệt” và “Thuỳ Lão biệt”.

Thơ của Đỗ Phủ có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài với hậu thế.

 

6 - Bạch Cư Dị

Bạch cư Dị (772-846) dân tộc Hán tự Lạc Thiên hiệu Hương Sơn Cư Sĩ người Hạ Khuê (đông bắc Vị Nam tỉnh Thiểm Tây ngày nay) là thi nhân và văn học gia lừng danh và có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài trong lịch sử văn học Trung Quốc được mệnh danh là “Thi Ma” và “Thi Vương”.

Thơ của ông có ảnh hưởng sâu rôngj ở các nước Trung Quốc Nhật Bbản và Triều Tiên v.v… là lãnh tụ của “Phong trào Lạc Phủ mới”.

Quê cha đất tổ của Bạch Cư Dị ở Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây cụ nội di cư đến Hạ Khuê (bắc Vị Nam tỉnh Thiểm Tây ngày nay) ông nội Bạch Hoàng lại di cư đến Tân Trịnh tỉnh Hà Nam.

Bạch Cư Di sinh ngày 20 tháng giêng năm Đại Lịch thứ 7 triều Đường đại Tông (28-2-772 dương lịch) tại thôn Đông Quách Vu phía tây thành Tân Trịnh (chùa Đông Quách ngày nay). Cuối đời Bạch Cư Dị  cư trú lâu dài tại Hương Sơn Lạc Dương có tên hiệu là “Hương Sơn Cư Sĩ”.

Tháng 8 năm Hội Xương thứ 6 thời Vũ Tông (năm 846) Bạch Cư Dị từ trần tại Lạc Dương an táng tại Hương Sơn thành phố Lạc Dương hưởng thọ 75 tuổi.

Sau khi ông qua đời Vua Đường Tuyên Tông Lý Thẩm đã ngự bút trực tiếpviết thơ tưởng niệm nhà thơ Bạch Cư Dị.

Tác phẩm để lại có “Bạch thị Trường Khánh tập” 71 quyển.

 

7 - Hàn Dũ

Hàn Dũ (768-824) nhà văn học nhà triết học thời nhà Đường tự Thoái Chi người Hà Dương (thành phố Mạnh Châu Tiêu Tác tỉnh Hà Nam ngày nay dân tộc Hán. Quê cha đất tổ ở Xương Lê tỉnh Hà Bắc người Đời gọi là Hàn Xương Lê. Cuối đời làm Lại bộ thị lang nên còn gọi là Hàn Lại Bộ. Tên thuỵ là “Văn” nên còn gọi là Hàn Văn Công.

Hàn Dũ là người đề xướng Phong trào Cổ văn thời nhà Đường chủ trương học tập ngôn ngữ tản văn của Tiên Tần và Lưỡng Hán phá biền ngẫu thành tản văn khuyếch đại chức năng biểu đạt của thể loại văn ngôn. Người triều Minh tiến cử ông là Người đứng đầu “Đường Tống bát đại gia” sánh vai với Liễu Tôn Nguyên gọi chung là “Hàn Liễu” có các tên khác là “Văn Chương Cự Công” và “Bách Đại văn tôn”.

Tác phẩm của ông đều được tập hợp trong “Xương Lê tiên sinh tập”.

Hàn Dũ còn là một người thợ cự phách về ngôn ngữ. Ông khéo léo sử dụng từ ngữ của tiền nhân lại chú trọng tinh luyện khẩu ngữ đương đại để sáng tạo ra rất nhiều ngữ cú mới trong đó có không ít câu đã trở thành thành ngữ lưu truyền đến nay như “Lạc tỉnh hạ thạch” (Người đã ngã xuống giếng còn bị ném đá theo) “Tạp loạn vô chương” (văn chương lộn xộn) v.v… Về tư tưởng ông là người xác lập quan niệm “đạo chính” Trung Quốc là nhân vật cột mốc tôn Nho phản Phật.

Ba tuổi Hàn Dũ đã mồ côi cha mẹ được anh và chị dâu dưỡng dục ngay từ nhỏ đã phải sống lang thang khốn khổ có chí học hành kinh bang tế thế tuy mồ côi nghèo khó nhưng hiếu học. Năm 20 tuổi lên Trường An thi Tiến sĩ ba lần thi đều không đậu. Sau năm 25 tuổi ông thi đỗ Tiến sĩ sau thi Bác học không đỗ nên đến nhậm chức ở hai Phủ Tiết độ sứ của Đổng Tấn (Biện Châu) và Trương Kiến Phong (Từ Châu).

Sau trở về kinh thành nhiệm chức Bác sĩ tứ môn. Sau năm 36 tuổi ông làm Giám sát ngự sử bởi vì dâng tấu chương bàn luận về trời hạn người đói kiến nghị miễn giảm phu thuế bị biếm chức xuống làm Dương Sơn lệnh. 

Khi Vua Hiến Tông trở về miền bắc vì là Bác sĩ quốc tử làm quan đến chức Hữu Thứ Tử Thái Tử những bất đắc chí. Sau khi 50 tuổi trước tiên từ Bùi Độ trưng Ngô Nguyên Tế sau di chuyển làm Thị lang Hình bộ. Vì can gián đón Phật cốt bị biếm chức đi làm Triều Châu thứ sử. Sau khi bị điều đi Viên Châu. Không lâu sau trở về triều đình từng đảm nhiệm các chức  Quốc tử giám Tế tửu Binh bộ Thị lang Kinh Diêu doãn. Về chính trị tương đối thành đạt. Thi ca đòi hỏi cầu kỳ mới lạ khí thế hùng hồn.

 

8 - Âu Dương Tu

Âu Dương Tu (1007-1072) tự Vĩnh Thúc dân tộc Hán tự đặt tên hiệu là Tuý Ông cuối đời có tên hiệu là Lục Nhất Cư Sĩ tên huý là Văn Trung người đời tôn xưng   là Âu Dương Văn Trung Công. Ông là người Vĩnh Phong Cát An (Giang Tây ngày nay). Nhưng ông tự nhận là người Lư Lăng vì Cát Châu vốn thuộc quận Lư Lăng sinh ra tại Cẩm Châu (Cẩm Dương tỉnh Tứ Xuyên ngày nay). Âu Dương Tu là nhà chính trị nhà văn học nhà sử học và thi nhân thời kỳ Bắc Tống.

Cùng với Hàn Dũ Liễu Tôn Nguyên (đời Đường) Vương An Thạch Tô Tuần Tô Thức Tô Triệt Tăng Củng (đời Tống) gọi chung là “Đường Tống bát đại gia” (tám nhà nổi tiếng thời Đường Tống).

Thời vua Nhân Tông làm các chức Tri Chế tạo Hàn Lâm học sĩ; Thời vua Anh     Tông làm quan đến chức Khu mật phó sứ Tham tri chính sự; Thời kỳ vua Thần Tông     làm Binh bộ Thượng thư Chí sĩ Thái Tử Thiếu soái. Sau khi qua đời tên huý là Văn Trung.

Ông đều có chủ trương cách tân về các phương diện chính trị và văn học vừa là người ủng hộ Phạm Trọng Yêm tiến hành tân chính Khánh Lịch cũng là người lãnh đạo phong trào cách tân thơ văn Bắc Tống. Ông hăng hái giúp đỡ những người đi sau cha con Tô Thức và Tăng Củng Vương An Thạch đều trưởng thành dưới trướng của ông. 

Thành tích sáng tác cũng hiển hách khả quan thơ từ tản văn đều đứng đầu một thời. Tản văn thuyết lý thoáng đạt trữ tình uyển chuyển; Thi phong và tản văn gần gũi trọng khí thế mà có thể lưu thoát tự nhiên; Từ của ông sâu sắc thanh thoát diễm lệ kế thừa phong vị của Nam Đường.

Ông đã cùng Tống Kỳ hợp tác biên soạn “Tân Đường Thư” một mình biên soạn “Tân Ngũ Đại sử”. Ông mê sưu tập văn tự kim thạch biên soạn thành “Tập cổ lục”. Những trước tác có “Âu Dương Văn Trung Công văn tập”. Thơ  “Đạp Sa hành”. Đồng thời trước tác “Tuý Ông đình ký” nổi tiếng.

Sau khi qua đời Âu Dương Tu được an táng tại Tân Trịnh Khai Phong (Tân Trịnh tỉnh Hà Nam ngày nay). Thôn Âu Dương Tự trấn Tân Điếm thành phố Tân Trịnh hiện có Lăng mộ Âu Dương Tu là đơn vị bảo hộ văn vật cấp quốc gia. Ngoài ra ngoại ô phía nam Miên Dương hiện nay cũng có từ đường thờ ông gọi là Lục Nhất đường.

 

9 – Tô Thức

Tô Thức (1037-1101) tự Tử Đam còn có tên tự là Hoà Trọng hiệu “Đông Pha Cư Sĩ” hưởng thọ 66 tuổi.

Năm Càn Thông thứ 6 triều Nam Tống ông đã được vau Cao Tông phong tặng danh hiệu Thái Sư. Tô Thức là người Mi Châu (Mi Sơn tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) dân tộc Hán con trai cả của cụ Tô Tuần nhà văn học nhà thư hoạ nhà tản văn thi nhân từ nhân nổi tiếng đời Bắc Tống ông là đại biểu của những từ nhân trường phái hào phóng.

Năm Gia Hựu thứ 2 (1057) và em trai Tô Triệt cùng đỗ Tiến sĩ. Được thụ phong  là Đại Lý Bình Sự Phán quan của Phủ Giám thư Phượng Tường.

Năm Hy Ninh thứ 2 (1069) sau khi mãn tang cha ông trở lại triều đình làm Phán quan Cáo viện. Do chính kiến không hợp với Vương An Thạch phản đối thực hành tân pháp tự xin ra ngoài nhậm chức ra làm Thông phán Hàng Châu. Sau đó còn di chuyển   làm Tri châu của Mật Châu (Chư Thành tỉnh Sơn Đông ngày nay) và Từ Châu.

Năm Nguyên Phong thứ 2 (1079) vì liên quan đến “Vụ án thơ U Đài” ông bị    trách phạt điều đi làm Đoàn luyện phó sứ của Hoàng Châu (Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc ngày nay) an tríở châu này nên không được ký tên vào công văn.

Khi lập vua Triết Tông Cao Thái Hậu nhiếp chính Tô Thức được phục chức Tri châu của Đăng Châu; Bốn năm sau được điều đi làm Lang trung Bộ Lễ nhậm chức chưa được mười ngày phải đi làm Xá nhân lo việc ăn ngủ trung thư sau điều sang làm Hàn Lâm học sĩ Tri Chế tạo Cống cử Bộ Lễ.

Năm Nguyện Hựu thứ 4 (1089) ông ra làm Tri châu Hàng Châu sau điều đi làm Tri châu của Dĩnh Châu Dương Châu Định Châu.

Nguyên Hựu thứ 8 (1093) vua Triết Tông trực tiếp điều hành chính sự Tô Thức bị biếm chức điều đi xa tận Huệ Châu (Huệ Dương tỉnh Quảng Đông ngày nay) sau lại bị biếm chức lưu đầy tại Chiêm Châu (Huyện Chiêm tỉnh Hải Nam ngày nay).

Khi vua Huy Tông tại vị ông được đặc xá trở về miền bắc đến năm Đoan Quốc thứ nhất (1101) Tô Thức qua đời tại Thường Châu (Giang Tô ngày nay) hưởng thọ 66 tuổi an táng tại huyện Hiệp Thành Nhữ Châu (Huyện Hiệp tỉnh Hà Nam ngày nay).

Ông cùng cha Tô Tuần (1009-1066) em trai Tô Triệt (1039-1112) đều nổi tiếng về văn học người đời mệnh danh là “Tam Tô”; lừng danh sánh vai với “Tam Tào phụ tử” (Tào Tháo Tào Phi Tào Thực) cuối vương triều Hán.

Là một từ nhân kiệt xuất ông đã mở đầu phong cách từ hào phóng sánh vai cùng từ nhân kiệt xuất Tân Khí Tật và được gọi chung là “Tô Tân”.

Tam Tô” là ba vị trong “Đường Tống bát đại gia” (Đường Tống bát đại gia là hợp xưng của 8 nhà văn viết tản văn nổi tiếng tiêu biểu thời kỳ Đường Tống tức là Hàn Dũ Liễu Tôn Nguyên (đời Đường) Âu Dương Tu Tô Tuần Tô Thức Tô Triệt Vương An Thạch Tăng Củng (đời Tống).

Tác phẩm của Tô Thức có “Đông Pha thất tập” “Đông Pha lạc phủ” v.v…

Về chính trị ông thuộc Cựu đảng do Tư Mã Quang làm lãnh tụ.

 

10 – Tào Tuyết Cần

Tào Tuyết Cần (1714- 1764).

Năm Càn Long thứ 28 (1763) con nhỏ của Tào Tuyết Cần chết sớm ông chìm đắm trong buồn thương và bi thống quá độ ốm nặng liệt giường. Đến đêm giao thừa năm ấy (12-2-1764) cuối cùng vì nghèo khó ốm nặng không có tiền chữa bệnh Tào Tuyết Cần đã qua đời hưởng niên 50 tuổi.

Tào Tuyết Cần “người béo đầu rộng da đen”. Ông tính cách kiêu ngạo phẫn uất bất bình trước thế tục hào phóng tự nhiên. Nghiện rượu tài ba ngang dọc khéo nói giỏi ăn.

Tào Tuyết Cần là một vị thi nhân. Thơ của ông lập ý tân kỳ phong cách gần như Lý Hạ thi nhân thời Đường. Quách Thành bạn ông đã từng hết lời ca ngợi: “Ái quân thi bút hữu kỳ khí”(Yêu anh thi bút diệu kỳ). Tào Tuyết Cần còn là một hoạ gia thích vẽ cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ như những hòn đá lạ chọc thẳng lên trời xanh.

Nhưng cống hiến lớn nhất của Tào Tuyết Cần còn ở lĩnh vực sáng tác tiểu thuyết.

Tiểu thuyết “Hồng Lâu Mộng” của ông nội dung phong phú tư tưởng sâu sắc nghệ thuật tinh thâm đẩy sáng tác tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc lên đỉnh cao nhất chiếm địa vị vô cùng trọng yếu trong lịch sử phát triển văn học thế giới.

“Hồng Lâu Mộng” là sản phẩm đã kết tinh tâm huyết của ông “phê duyệt mười năm thêm bớt năm lần từng chữ từng chữ đều là máu mười năm gian khổ chẳng tầm thường”.

80 hồi sau của bản “Hồng Lâu Mộng” hiện nay đang lưu truyền ông đã viết xong nhưng do rất nhiều nguyên nhân mà chưa lưu truyền lại.

Có giả thuyết cho rằng Cao Ngạc (có thể chỉ là người hiệu đính) viết tiếp.

 

VŨ PHONG TẠO giới thiệu và dịch

(Theo www.xooob.com 1/3/2010)

NGUỒN VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI

More...

NHÂN VẬT A PHỦ

By Đinh Hà Triều

                                         NHÂN VẬT A  PHỦ

 

 

                                                               Nhà văn TÔ HOÀI

 

 

alt

 

[…]  A Phủ không phải là sự tích một người thật việc thật. Tất cả tai nghe mắt thấy và những trải biết của tôi từ những sự thật ấy tổng hợp vào sáng tạo. Dọc đường A Phủ đã kể những gian truân của vợ chồng anh và mọi sinh hoạt khó khăn ở khu du kích đã bao năm. Tôi đã đến dự một đêm xử người bẻ trộm ngô hệt như đám xử kiện khủng khiếp đã miêu tả trong truyện và trong phim Vợ chồng A Phủ mà nhà văn Kim Lân đã đóng vai pụ pạng (thằng mõ) rất xuất sắc. Chỉ có điều là người đứng ra xử kẻ trộm ngô không phải là thống lý Pá Tra mà là cán bộ ta. Mới giải phóng địa phương có chủ trương giữ mọi phong tục tập quán không phân biệt là tốt hay là lạc hậu dã man.

Người cán bộ kết nghĩa anh em với A Phủ là những hoạt động thật của cán bộ địch hậu Chi Mai cán bộ phụ trách khu du kích Phù Yên. Chi Mai quê ở Hà Đông đã xung phong công tác Tây Bắc. Và phần nào trong tinh thần người cán bộ hậu địch có cả tôi. Tôi đi với Chi Mai nhiều xóm muốn giữ tôi lại làm thày giáo. Trong bữa rượu người ta hay đọ cánh tay nếu dài bằng nhau mà lại bằng tuổi thì nhất định chúng tôi phải kết làm anh em. Phong tục “ăn sùng” này gốc của người Tày người Thái một nếp sống vui và có ý nghĩa nhiều dân tộc khác đã bắt chước.

Câu chuyện A Phủ kể tôi đã ngẫm nghĩ mọi mặt tư tưởng tình cảm của đối tượng và của tội tất cả đã sáng tạo nên Vợ chồng A Phủ mà các bạn đã đọc. Có một quang cảnh khác là khu du kích trạm Tấu và bên bản Thái đều ở sâu trong rừng không trông được xuống núi như trong truyện kể. Cũng chuyến đi ấy tôi đã sang nhà lão du kích Triệu Văn Khìn người Dao ở mường Cơi. Đồn Tây dưới cánh đồng đã đánh lên núi mấy lần bị bố con ông Khìn lăn đá xuống chết mấy đứa không dám lên nữa. Ở chỗ nương nhà ông Khìn trông xuống thung lũng đồn mường Cơi rõ mồn một. Hôm ấy uống rượu ủ bột báng nhắm thịt phượng hoàng đất ông Khìn vừa đi bắn được tôi nhìn xuống và quyết định đưa cái động trông thấy ở mường Cơi sang cánh đồng dưới chân núi nhà nương của vợ chồng A Phủ.

Câu chuyện này nếu không nói bạn đọc có thể khó hiểu. Truyện Vợ chồng A Phủ những lần in đầu – năm 1954 có nhân vật thống lý Chống Lầu. Các lần in sau và bây giờ tôi đổi tên là thống lý Pá Tra. Tại sao vậy? Chống Lầu là tên ông thống lý ở Háng Chu tôi đã nhiều lần đến chơi ông thết khách thịt ngựa không muối. Tên ông Chống Lầu cũng điển hình tên con người ở tầng lớp trên. Ông không biết chữ lại ở khu du kích hẻo lánh thế này ông biết đâu tôi mượn tên ông.

Năm 1954 miền Bắc giải phóng ông Chống Lầu được cử ra làm phó chủ tịch khu tự trị Tây Bắc cơ quan ở thủ phủ Sơn La. Anh Hoàng Nó bấy giờ là bí thư tỉnh ủy Sơn La đã nhắn tôi viết hỏng rồi. Nếu đứa nào xấu mách ông Chống Lầu là thằng nhà báo năm ấy đã viết sách bảo Mo Chống Lầu là phản động thì nguy quá. Các buổi phát thanh tiếng Mường ở Sơn Dương đọc Vợ chồng A Phủ đều phải bỏ.

Một lần đi huyện Than Uyên tôi mượn quyển sổ ghi tên các người tù đương bị giam ở đây. Tôi nhặt ra tên một người tù là Pá Tra. Tôi đổi là thống lý Pá Tra từ ngày ấy chắc không lo trùng tên 

 


More...

ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ CỦA E.HEMINGWAY (Phần cuối)

By Đinh Hà Triều

ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ

CỦA E.HEMINGWAY (Phần cuối)

                                                                          PGS.TS LÊ HUY BẮC

 

 

4. Hành động theo cách của riêng mình

Đặc trưng nổi trội nữa trong tính cách nhân vật mã của Hemingway là họ tự xác lập một lối hành động cho riêng mình. Với cách sống đó ta thấy ở họ dáng dấp của kiểu nhân vật hiện sinh. Santiago là người gần như bị cộng đồng (chỉ còn mỗi thằng bé Manolin quan tâm) và bị cả tạo hoá bỏ rơi (không bắt được cá suốt 84 ngày) nhưng ông lão tin vào bản thân mình. Chỉ cần lão bắt được cá thì mọi sự sẽ chấm dứt. Ở đây tồn tại xung đột ngầm giữa một Santiago bị loại bỏ ra khỏi cộng đồng và một Santiago với cách thức tồn tại riêng của lão bên cộng đồng đó.

Lão hành động như sau: không hề nản chí mà cứ miệt mài ra khơi với hi vọng bắt được con cá xứng đáng với tài nghệ lão. Mục đích ban đầu của lão không phải vì những tiêu chí đánh giá của cộng đồng mà vì ý thức của lão muốn sống một cách tử tế theo cách riêng của lão. Lão đã bắt được con cá mà ngay cả đến trong mơ lão cũng chưa từng gặp. Con cá ấy lớn hơn bất cứ con cá nào trước đó được đưa vào cảng La Havana.

Santiago cũng như các nhân vật thuộc “thế hệ mất mát” đều tin vào các giá trị xác thực tin vào khả năng của chính bản thân mình. Santiago cầu Chúa giúp là chỉ giúp lão chịu đựng chứ không cầu giúp bắt con cá có nghĩa lão ý thức được thành quả lao động là phải do chính tay con người làm ra chứ không thể có Chúa nào làm giúp cả. Họ không tin vào những điều trừu tượng hoa mĩ như những gì Kinh Thánh giảng dạy. Do vậy việc Santiago hứa đọc kinh cầu Chúa giúp sức chỉ là một “phản xạ văn hoá” nhất thời (vì hằng bao thế kỉ người phương Tây sống theo những quy chuẩn đạo đức Thiên Chúa giáo). Bởi vì sau đó Santiago không đọc mà lão thầm nhủ: xem như đã đọc rồi. Sự bất tin ấy còn được đẩy đến mức bất kính. Tập trung nhất là ở chi tiết sau khi giết chết con cá ông lão thấy “mắt nó trông dửng d­ưng như­ những tấm kính trong kính viễn vọng hay như­ một vị thánh trong đám rước”.

Không dựa vào Chúa nhân vật của Hemingway dựa vào chính bản thân mình. Đây là giá trị nhân văn vô cùng to lớn. Santiago đặt ra cho mình mục đích và cách sống. Bây giờ lão đang đi gần đến cái đích; con cá sắp bị lão chinh phục. Không có thế lực nào ngăn cản lão ngoại trừ chính bản thân lão. Đến đây ta bắt gặp một ý tưởng độc đáo của nhà văn: con người trong cuộc khám phá chinh phục chính bản thân mình. Cuộc chinh phục của lão được tiến hành song song giữa hai đối tượng: đối tượng bên ngoài (con cá) và đối tượng bên trong (khả năng của thể trạng lão).

Hemingway không thật sự tập trung vào việc để nhân vật chinh phục thế giới bên ngoài. Tiêu điểm của ông hướng cả vào việc khai thác thái độ của nhân vật trước hoàn cảnh đó. Với Hemingway việc đánh một con cá lớn thì ai đó cũng có thể thực hiện được nhưng qua việc đánh cá đó để kiểm định khả năng tồn tại và ý nghĩa sống của con người thì chỉ có Santiago thực hiện được mà thôi.

Từ quan niệm này người đọc sẽ thấy Santiago rất nhiều lần bộc lộ mình qua những đối thoại. Trong cuộc chiến với con cá ông lão liên tục đối thoại với bản thân với mục đích giữ cho đầu óc tỉnh táo bàn tay khỏi bị chuột rút cơ thể khỏi bị đổ sập xuống vì cuộc chiến không cân sức. Khẩu hiệu chiến đấu của lão là tổng động viên mọi bộ phận trong cơ thể: “Kéo đi tay ơi lão thầm giục. Hãy đứng vững đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày ch­ưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ lật đ­ược nó”. Kết quả nhờ vào ý chí và sự điêu luyện tay nghề ông lão đã giết được con cá kiếm. Nhưng tâm trạng của ông lão không hoàn toàn phấn khích trước thành quả đó.

5. “Mày đang giết tao cá à”

Trong văn bản được chọn dạy người đọc chỉ tiếp xúc với hai nhân vật ông lão và cá kiếm. Cá kiếm là đối tượng ông lão cần chinh phục để duy trì sự sống vật chất (lão từng nhẩm tính số lượng thịt của cá kiếm có thể nuôi sống một người trong cả mùa đông) đồng thời cũng để khẳng định giá trị tinh thần vì với lão và với dân làng chài ấy một khi ngư dân không bắt được cá nữa thì người ấy được xem như đã chết. Cái chết về phương diện tinh thần.

Trong cuộc chinh phục cá kiếm ông lão cảm nhận được vẻ oai hùng sòng phẳng cao thượng ... của con cá nên cảm phục nó xem nó là bạn gọi nó là “người anh em”: “Mày đang giết tao cá à ông lão nghĩ. Nh­ưng mày có quyền làm như­ thế. Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng duyên dáng bình tĩnh cao thượng hơn mày ng­ười anh em ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”. Khoảng cách của người chinh phục và kẻ bị chinh phục đã được rút đến điểm không. Mối quan hệ giữa ông lão và cá kiếm lúc này không đơn thuần là quan hệ triệt tiêu một chiều mà là mối quan hệ đa diện phức tạp.

Ngợi ca con cá và hành động trung thực sòng phẳng của nó trong cuộc đối đầu với mình Santiago gợi cho người đọc ẩn ý thầm kín mà tác giả gửi gắm rằng trên đất liền ông lão không còn ai tri âm tri kỉ nữa cuộc sống loài người đã bị đảo điên ghê gớm các chân giá trị. Santiago không thể và không còn thuộc về thế giới ấy. Sự thẳng thắn cao thượng của ông lão chỉ có thể tìm được sự tri âm ở chốn biển khơi. Con cá là bạn lão cũng như đại dương bao la mới đích thực là ngôi nhà thân thiết của con người cô độc Santiago. Giống như mọi nhân vật mã khác của mình Hemingway kiến tạo một môi trường sống gần gũi với thiên nhiên cho nhân vật. Chỉ quay về với thiên nhiên nhân vật Hemingway mới tìm được sự lắng dịu tâm hồn sự đồng cảm. Mối quan hệ giữa ông lão và cá kiếm thể hiện rõ điều này.

Tuy nhiên không phải lúc nào mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên cũng suôn sẻ như nhan đề chỉ ra (Ông già và biển cả) mà thường xuyên là phức tạp. Mục tiêu của ông lão là giết chết con cá để tìm nguồn sống nhưng ngay tức khắc ông lão ý thức được rằng con cá là hiện thân của cái đẹp. Lão giết nó đồng nghĩa với việc giết chết cái đẹp. Nhưng lão không thể không giết chết nó. Đây chính là bi kịch muôn thuở của con người.

6. Lão cố thêm lần nữa

Để vượt qua con cá và qua những phức cảm trong tâm hồn ông lão chỉ còn cách “cố thêm lần nữa”. “Cố gắng” chính là nền tảng thành công của ông lão. Văn bản thường xuyên lặp lại mệnh đề này bằng ngôn ngữ của người kể và ngôn ngữ của chính Santiago:

- Mình sẽ cố thêm lần nữa.

- Lão cố thêm lần nữa.

- Mình sẽ lại cố thêm.

- Lão lại cố và mọi chuyện vẫn như cũ.

- Mình sẽ lại cố thêm một lần nữa...

Cứ một lần cố ông lão đến gần hơn với chiến thắng. Sau một lần cố con cá thêm một lần thất thế trước lão. Sự thành công của lão và sự thành công của con người nói chung phải chăng là nhờ những nỗ lực không ngừng trong cuộc đời?

Trong chiến thắng của ông lão không chỉ có mỗi sự nỗ lực vượt qua những đau đớn thể xác và tinh thần mà còn có cả quá khứ và tất cả mọi thứ tốt và xấu trong chính con người lão: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu lão mang ra đ­ương đầu với cơn hấp hối của con cá và con cá tiến gần mạn thuyền từ từ bơi nghiêng mõm nó gần như­ chạm vào ván thuyền và sắp sửa v­ượt qua dài sâu rộng ánh bạc vằn tía và bất tận trong dòng n­ước”. Đớn đau tàn lực và lòng kiêu hãnh của quá khứ được đặt liền kề. Sức mạnh của Santiago không phải là sức mạnh của người sung sức mà là sức mạnh của tổng thể những gì đã suy thoái. Thế mà lão vẫn chiến thắng con cá. Đấy chính là giá trị tiềm tàng mà chỉ con người mới có được trên hành trình khẳng định sự sống.

7. “Con cá là vận may của ta”

Trên đây chúng tôi đã đề cập đến việc con cá là giá trị vật chất và tinh thần của ông lão. Bên cạnh đó nó còn là vận may của Santiago. Điều này được chính ông lão thừa nhận. Thì ra ngoài nỗ lực của bản thân thành quả chiến thắng của ông lão còn nhờ vào sự rủi may của số mệnh.

Rất nhiều lần trong tác phẩm ông lão xem việc không bắt được cá trong suốt 84 lần ra khơi là do vận rủi. Không chấp nhận điều đó lão vẫn nuôi hi vọng sẽ bắt được cá lớn. Cuối cùng lão toại nguyện khi câu được con cá khổng lồ. Nhưng con cá kéo lão ra khơi xa. Lão trở thành “con mồi” của con cá. Một sự hoán vị lạ lùng. Ông lão lại trở nên bị động trước con cá. Xem ra khát vọng càng lớn con người càng bị nô lệ vào đó và rất dễ đánh mất đi sự tự do tự chủ của chính bản thân mình. Trong trường hợp này vận may lại trở thành vận rủi. Khi giết được con cá vận may lại trở về với ông lão. Chỉ có điều chẳng bao lâu vận may ấy lại chuyển sang vận rủi.

Cơ sự cũng bắt đầu bằng một hành động trái khoáy. Khi Santiago đâm chết con cá nghỉ ngơi lại sức và tự nhủ: “Bây giờ phải kéo nó vào buộc chặt và tròng một chiếc thòng lọng vào giữa thân và một chiếc nữa vào đuôi để buộc nó vào thuyền”. Rồi lão gọi: “Đến đây cá. Nh­ưng con cá không nhúc nhích. Thay vào đó lúc này nó nằm ­ườn mình trên biển và ông lão phải lôi con thuyền lại chỗ nó”. Một lần nữa ông lão lại mất thế chủ động trước con cá ngay cả khi nó đã chết. Điều này lại báo hiệu vận rủi và không lâu sau đàn cá mập đánh hơi được mùi máu cá đã xông tới tấn công. Cuối cùng khi đưa được thuyền về bến Santiago chỉ còn lại bộ xương cá khổng lồ.

Có thể nói hành trình câu cá của ông lão là ẩn dụ cho hành trình rủi may của kiếp người. Trong đời rủi may luôn cận kề không dễ gì nắm bắt và có thể hiểu hết. Hemingway khắc hoạ hình tượng nhân vật đầy ý chí nghị lực tài năng để vượt qua những rủi may ấy. Hành trình sống của họ hết đi từ điều may rủi này sang điều may rủi khác. Mọi phấn đấu của họ rốt cuộc sẽ cũng không thoát khỏi cái vòng rủi may kia. Và cuối cùng là cái chết - hư vô. Dẫu thế nhân vật của Hemingway không bao giờ chịu khuất phục. Họ sống để khẳng định một điều ngay cả lúc tả tơi nhất của số phận con người vẫn luôn biết ngẩng cao đầu kiên trì chịu đựng (chịu đựng như một con người) biết chiến đấu để vượt qua. Và đây là ý nghĩa sống tích cực nhất cho mọi lẽ sống: “con người có thể bị huỷ diệt chứ không chịu khuất phục” trước mọi thế lực bạo tàn1

 

 



Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/2010

More...

ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ (TIẾP THEO)

By Đinh Hà Triều

ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ (TIẾP THEO)

                                                                                PGS.TS Lê Huy Bắc

 

2. Cảm giác

Là bậc thầy xây dựng hình tượng ẩn dụ đa nghĩa ... Hemingway còn là người khai thác rất thành công cảm giác của nhân vật. Bằng cách này ông khiến cho thế giới nhân vật của mình hiện lên vừa cụ thể sống động nhưng lại vẫn có phần bí hiểm và đầy chiều sâu. Đặc biệt là với ông lão Santiago. Khi sức khoẻ suy kiệt Santiago chiến đấu với con cá kiếm bằng kinh nghiệm và sức mạnh tinh thần. Kinh nghiệm chủ yếu được thể hiện bằng cảm giác. Điều kì lạ là chỉ bằng cảm giác mà ông lão có thể xử lí hoàn hảo trước mọi động thái của con cá. Điều này cho thấy tay nghề câu cá của ông lão đã vượt qua cả ngưỡng siêu việt. Khai thác cảm giác này Hemingway mới có điều kiện thuận lợi để xâm nhập sâu vào thế giới tư duy của nhân vật. Nhờ đó mà độc thoại nội tâm của nhân vật đã trở thành phương tiện biểu đạt tính cách nhân vật một cách hoàn hảo tài tình: “Đúng lúc đó lão cảm thấy một cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây lão đang níu bằng cả hai tay. Thật là sắc và cảm thấy cứng và nặng.

“Lưỡi kiếm của con cá đang quật vào đoạn dây thép đáy lão nghĩ. Chuyện ấy tất xảy ra”. Hành động ấy của con cá diễn ra dưới mặt nước sâu nhưng ông lão vẫn nhận ra.

Cảm giác đóng vai trò rất quan trọng trong kĩ thuật tự sự của Hemingway. Nổi bật trong đoạn trích là hai cảm giác cơ bản của Santiago: về sức khoẻ và về việc khuất phục con cá. Văn bản xuất hiện hàng loạt câu đề cập đến các cảm giác này. Người kể sử dụng hai thủ pháp ngôn từ để khắc hoạ. Một là bằng chính ngôn ngữ của mình để miêu tả (“Nhưng lão lại cảm thấy choáng váng” “Nhưng đã hai lần lão cảm thấy chóng mặt và choáng váng và điều ấy khiến lão sợ” ...). Hai là sử dụng ngôn ngữ của nhân vật (“Lượt tới nó lượn ra ta sẽ nghỉ” lão nói. “Ta cảm thấy đỡ hơn nhiều. Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ có nó”).

Với cách kể này câu chuyện của Hemingway đan cài nhiều tầng “không khí”. Thường thì độ căng của truyện được đặt ngay trong hành động trực tiếp của nhân vật nhưng với Hemingway thì trọng tâm truyện bao giờ cũng nằm ngoài câu chuyện nằm ở cái phần “trống” phần không nói hết của người kể.

3. Diễn biến

Cuộc chiến của Santiago với cá kiếm diễn ra vô cùng gay cấn. Để giành chiến thắng ta thấy Santiago tiến hành lần lượt các bước sau:

- Thu dây để khiến con cá quay vòng.

- Cầu con cá đừng nhảy bởi sợ mất nó: “Đừng nhảy cá”. Lão nói. “Đừng nhảy”.

- Cầu Chúa giúp bằng cách hứa đọc kinh: “Chúa giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh mừng Đức Mẹ”.

- Phân tích tình hình: “Mình phải giữ cho nó đừng đau quá lão nghĩ. Nỗi đau của ta thì không thành vấn đề. Ta có thể chế ngự. Nhưng nỗi đau của con cá thì có thể khiến nó cuồng lên”.

- Di chuyển được con cá: “Ta đã di chuyển được nó”.

- Động viên bản thân: “Kéo đi tay ơi lão thầm giục. Hãy đứng vững đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao đầu à”.

- Tập trung sức lực: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu lão mang ra đương đầu với cơn hấp hối của con cá”.

- Phóng lao giết chết con cá.

Song song với diễn biến trên là quá trình suy kiệt sức lực của ông lão:

- Khi con cá bắt đầu lượn vòng lão hãy còn đủ sức để kéo: “Lão chỉ cảm nhận áp lực của sợi dây hơi chùng lại và dùng tay phải lão bắt đầu nhẹ nhàng kéo vào. Sợi dây chững lại như­ mọi khi như­ng ngay lúc lão kéo đến điểm sắp đứt thì sợi dây bắt đầu thu vào. Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu liên tục kéo nhẹ nhàng”.

- Nhưng rồi cứ phải ra sức níu sợi dây để buộc con cá phải quay vòng sức lực lão suy kiệt nhanh chóng: “hai giờ sau mồ hôi ­ướt đẫm ng­ười ông lão và lão mệt thấu xương” “ông lão thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ mồ hôi xát muối vào mắt lão và xát muối lên vết cắt phía trên mắt và trán” ...

- Tiếp đó ông lão “lại cảm thấy choáng váng” “toát mồ hôi đầm đìa nhưng không phải vì mặt trời mà vì một nguyên nhân khác” “lão lại thấy xây xẩm mặt mày” “miệng lão khô khốc không thể nói nổi như­ng lúc này lão không thể với lấy cái chai”.

- Đỉnh điểm của việc kiệt sức là sự “lú lẫn đầu óc”. Ông lão bước vào trạng thái chênh chao giữa sống và chết khi “lão nói bằng giọng mà bản thân hầu như­ không còn nghe nổi”.

- Tại thời khắc đó ông lão đã biết tự động viên kịp thời: “Hãy giữ đầu óc tỉnh táo và biết cách chịu đựng như­ một con người” lão nghĩ. Rồi lão kêu gọi: “Đầu ơi hãy tỉnh táo”. Bằng cách đó từng phút giây lão trở nên mạnh hơn con cá.

 Dõi theo mạch trần thuật trên ta thấy diễn biến của trận đánh rất gay cấn được tính theo từng vòng lượn của con cá và tính theo cả chút sức lực ít ỏi còn lại dần hao mòn của ông lão: “Cứ cái đà này thì không ổn rồi lão nghĩ. Miệng lão khô khốc không thể nói nổi như­ng lúc này lão không thể với lấy cái chai. Lần này mình phải kéo nó cập mạn lão nghĩ. Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức”.

Có lúc người đọc ngỡ như ông lão để mất con cá hoặc gục chết trước nó. Thế nhưng lần nào cũng vậy lão biết cách xốc lại tinh thần kịp thời: “Lần này mình phải kéo nó cập mạn lão nghĩ. Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức. Không mày khoẻ lão tự nhủ. Mày luôn khoẻ”. Cuối cùng ông lão đã chiến thắng. Một chiến thắng kì vĩ cho quyết tâm không thể gì lay chuyển.

Trong đoạn trích cuộc chiến tập trung vào hai đối thủ đã rã rời thân xác. Cả hai đã đấu sức với nhau ròng rã hai ngày đêm. Bây giờ kẻ nào không trụ vững kẻ đó không tồn tại. Do vậy ta thấy độ căng của diễn biến được tăng dần theo sự suy kiệt sức lực của hai đối thủ. Trong lúc con cá dần ngoi lên (dấu hiệu của sự thúc thủ) thì ông lão nhiều lần suýt ngất. Nhưng ông lão vẫn gượng dậy. Cuối cùng con cá là kẻ bại trận.

More...

"Ông già và biển cả" của Ernest Hemingway (I)

By Đinh Hà Triều

"Ông già và biển cả"

của Ernest Hemingway
PGS.TS. Lê Huy Bắc
Khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm Hà Nội

alt

 

1. Cuộc chiến cuối cùng với cá kiếm

Ông lão câu được con cá kiếm vào khoảng trưa ngày đầu tiên. Ngay khi đó con cá ròng rã kéo ông lão ra khơi xa trong suốt hai ngày đêm. Một con người cô độc ra khơi chỉ với một chai nước và quyết tâm không gì lay chuyển về việc bắt được con cá lớn xứng đáng với tài nghệ của mình lúc này đã được đặt vào thử thách quyết định. Liệu lão có chinh phục được con cá kiếm ấy không?


Các nhà nghiên cứu khái quát đặc trưng nhân vật của Hemingway bằng thuật ngữ “Code hero” có nghĩa là nhân vật mã. Cách định danh này gây không ít tranh cãi. Bởi vì thông thường mọi sáng tạo nhân vật của bất cứ nhà văn nào cũng đều tuân thủ theo một nhất định. Nếu không tạo được cho nhân vật của mình một mã đặc trưng không thể lẫn thì nhà văn đó được xem là thất bại. Nhân vật của họ không thể đọng lại trong tâm trí người đọc. Như vậy khái niệm “Code hero” có thể được dùng cho bất kì nhân vật của một nhà văn nổi tiếng nào thế mà nhân vật của riêng Hemingway lại có được đặc ân đó.

Điều này có nguyên do của nó. Có thể cắt nghĩa như sau: trong số các nhân vật đặc trưng thì nhân vật của Hemingway thuộc dạng đặc trưng nhất hoặc kiểu đặc trưng của nhân vật Hemingway cá biệt đến nỗi không lẫn vào bất kì nhân vật của nhà văn nào khác. Nếu hiểu như vậy thì việc xem nhân vật của Hemingway là nhân vật mã tức các nhà nghiên cứu đã tôn vinh sự sáng tạo tuyệt vời của nhà văn bởi đó là kiểu nhân vật trước đó chưa hề xuất hiện và về sau cũng không có nhân vật nào giống nó.

Đúng vậy ta có thể kể một số của nhân vật Hemingway như sau:

Trong tiếng Anh để chỉ danh từ nhân vật có hai từ character và hero. Từ hero ít được dùng hơn vì nó ngầm chỉ tính chất anh hùng. Do vậy khi các nhà nghiên cứu gọi nhân vật của Hemingway là code hero thì họ nhằm ám chỉ phẩm chất anh hùng ở những con người này.

Nhân vật của Hemingway luôn được đặt trong môi trường “tới hạn” có nghĩa môi trường tồn tại của họ khốc liệt đến mức họ luôn bị cái chết rình rập buộc phải tranh đấu để vượt qua.

Để nhân vật đứng giữa ranh giới sự sống và cái chết Hemingway muốn tìm xem đâu là cơ sở để con người tồn tại trên thế gian này và yếu tố nào khiến con người cao quý hơn tất cả các sinh vật khác từng tồn tại trên trái đất.

Nhân vật Hemingway buộc phải tự mình tìm một lối thoát theo cách của họ để bảo vệ sự sống của bản thân tính chất anh hùng được toát lên từ khả năng chống chọi và tìm đường này.

Cách thức để các nhân vật đương đầu với mọi thử thách ở từng trường hợp khác nhau có thể là khác nhau nhưng họ đều có cùng điểm chung là dựa vào sự điêu luyện của tay nghề và ý chí nghị lực.

Nhân vật của Hemingway luôn có ý thức về sự hư vô mà họ phải đương đầu. Họ biết rất rõ rằng mục tiêu tồn tại của họ là chiến đấu chống trả lại cái hư vô đó. Nhưng họ không hề ảo tưởng con người đứng cao hơn số mệnh cao hơn tự nhiên. Họ biết một khi vượt qua được cái hư vô này họ lại phải đối diện với một cái hư vô khác. Nhưng họ không bao giờ chịu buông xuôi.

Họ chống trả lại thực trạng bằng một “phong độ dưới áp lực” (Phillip Young). Có nghĩa dù đã rơi vào cảnh ngộ sức tàn lực kiệt đến đâu chăng nữa nhưng hễ còn sống họ phải dốc tận lực ra mà chiến đấu để có thể tồn tại đúng nghĩa một con người.

Hemingway sáng tác trong thời buổi thế giới có nhiều biến động về chiến tranh về các khuynh hướng tư tưởng về kinh tế ... Sự tồn tại của con người trong môi trường đó được xem như một cuộc tranh đấu gian nan. Ở góc độ nào đó tồn tại đồng nghĩa với việc chống trả các thế lực thù nghịch xung quanh. Xuất phát từ cách nhìn này Hemingway xem nhân vật của mình là những chiến binh trên trận chiến cuộc đời. Hình tượng Santiago được khắc hoạ theo kiểu đó.

Trước hết nhân vật hiện lên với tư cách là một con người đơn độc. Đây là một phẩm chất thường thấy của người anh hùng. Trong thần thoại hoặc trong sử thi truyện cổ tích ... nhân vật anh hùng luôn hành động một mình. Điều này cốt để khẳng định tầm vóc phi thường sức lực vô biên không thế lực nào ngăn cản hoặc một ai sánh nổi. Trong văn bản của sách giáo khoa chỉ có mỗi một ông lão đương đầu với con cá kiếm. Môi trường xảy ra trận chiến là đại dương bao la nơi không có bất kì một thế lực nào có thể can thiệp. Môi trường này được xem là “tinh khiết” để ghi nhận sức mạnh của hai đối thủ. Con cá cứ kéo ông lão cứ giữ cả hai cố làm kiệt sức để huỷ diệt nhau. Đến ngày thứ ba con cá bắt đầu đuối sức phải lượn vòng. Điều này có nghĩa ông lão không bị con cá điều khiển nữa mà đang chuẩn bị bước vào quá trình điều khiển con cá. Sự thay đổi vị thế đã khẳng định sức mạnh của ông lão. Thực chất ông lão có phải là kẻ dồi dào sức lực không?

Câu trả lời không khó. Ông lão vừa già lại vừa yếu về sức mạnh cơ bắp. Hemingway thường nhấn mạnh đến yếu tố “già nua” trên cơ thể ông lão. Vậy ông lão lấy đâu ra sức lực để chinh phục con cá? Sức lực của ông lão được huy động từ nhiều nguồn. Trước hết là từ quá khứ oai hùng của lão (nhà vô địch vật tay người ngang dọc trên đại dương săn rùa câu cá ...) tiếp đó là sức mạnh từ việc thành thạo tay nghề (hiếm có người nào có tay nghề giỏi như ông lão ở làng chài ấy dẫu suýt ngất vì kiệt sức nhưng chỉ cần một cú phóng lao ông lão đã giết chết con cá kiếm) cuối cùng là sức mạnh tinh thần. Ông lão đã chứng minh được điều trước các sinh vật to lớn của đại dương sức khoẻ cơ bắp của con người quả thật là thảm hại khi mang ra so sánh với chúng nhưng sở dĩ con người lại trở thành “chúa tể của muôn loài” (theo cách nói của Shakespeare) là nhờ họ sở hữu được một thứ sức mạnh vô song. Đó chính là ý chí nghị lực thuộc phạm vi tinh thần.

Hành trình đeo đuổi suốt hai ngày hai đêm của ông lão trước đó đã mang lại kết quả. Nó khẳng định chiến thắng của ông lão. Nhưng đấy mới chỉ là khởi đầu cuộc chiến lúc này mới thực sự bước vào chặng đường gay cấn nhất. Ông lão không hề có ý định bỏ cuộc. Kinh nghiệm cũng như tài nghệ của ông lão được người kể khắc hoạ qua nhiều chi tiết cụ thể tinh tế. Chỉ cần “cảm nhận áp lực của sợi dây hơi chùng lại” Santiago biết con cá sắp lượn vòng.

Ông lão không hề bị phân tâm trong suốt quá trình chiến đấu. Lão là một người nhẫn nại với công việc. Không điều gì có thể dứt lão ra khỏi mục tiêu cuối cùng là bắt cho được con cá kiếm. Có thể nói Santiago toàn tâm toàn ý trước nhiệm vụ mà thoạt nhìn không nhiều người tin chắc ông lão có thể thực hiện được. Chính lòng cần cù sự tập trung và quyết tâm cao độ đã cung cấp thêm nguồn sức mạnh vô biên cho lão.

Phẩm chất đáng quý nữa ở Santiago là tính cách luôn hành động. Có thể nói ông lão là người không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ để chờ vận may đến với mình. Trong cuộc chiến đấu đó một phần con cá cứ liên tục kéo nên ông lão phải căng hết người lên mà chống đỡ phần khác là vì bản thân ông lão là con người hành động. Santiago không chịu bó tay trước hoàn cảnh. Sự vận động khẳng định tố chất muốn thể hiện giá trị tồn tại của con người ngay cả khi sức lực đã già nua. Hơn nữa với Santiago không hành động đồng nghĩa với việc chết. Lão không muốn chết. Do vậy Santiago luôn tồn tại trong thế động với các động tác của cơ thể của tư duy cũng như của ngôn từ.

Lão hết thu dây thả dây rồi lại nói nghĩ (thành lời). Các động tác này cứ luân phiên nhau trong văn bản để tạo nên một con người Santiago đa diện mạo để khiến cho câu chuyện chỉ viết về một người một số phận nhưng lại âm vang nhiều cuộc đời nhiều số phận.

Mở đầu tác phẩm Hemingway đặt nhân vật Santiago vào vận rủi vô cùng tận với 84 ngày không bắt được cá. Nhưng chính nhờ hành động không mệt mỏi của mình lúc này ông lão sắp tóm được chú cá lớn xứng đáng với tài nghệ mình như lão hằng mong muốn. Như thế miệt mài theo đuổi khát vọng lớn trong đời là một đặc trưng của nhân vật mã Hemingway.

More...

Nguyễn Du - nhà phân tích tâm lý

By Đinh Hà Triều

Nguyễn Du - nhà phân tích tâm lý

                                                                           GS. PHAN NGỌC

 

Lời ngỏ: Năm 1985 chuyên luận TÌM HIỂU PHONG CÁCH NGUYỄN DU TRONG TRUYỆN KIỀU được xuất bản. Lúc ấy tôi đang theo học ĐHSP QUY NHƠN. Và chính tôi đã tìm thấy tập sách này ( khi nó còn xêp thành một chồng vì mới mang về chưa kịp trưng ra trên tủ kính trên giá- tại một Hiệu sách nhân dân cách trường khoảng 300 mét. Lúc ấy tôi đã dốc cả số tiền ăn học trong tháng để mua hết 15 cuốn! Vì sao thế? Vì thấy sách hay nên mua luôn về cho bạn bè. Hầu hết các bạn đều rất hài lòng. Dạo ấy không phải không có người phản bác nội dung cuốn sách (lời phản bác mạnh mẽ nhất là của ông Nguyễn Văn Lưu trên báo VĂN NGHỆ). Hữu xạ tự nhiên hương tập sách được nhiều giới nhiều thế hệ đón đọc. Xin giới thiệu bài viết của GS Phan Ngọc về một nội dung của tập sách. Bìa sách dưới đây là của lần in năm 2010.

alt


 


1- Trong việc nghiên cứu Truyện Kiều xu hướng xưa nay là đưa ra những nhận xét căn cứ vào cảm thụ thẩm mỹ của mình. Những nhận xét ấy thường là rất tinh tế hấp dẫn. Nhưng vì quan điểm khảo sát là chỉ phân tích những cảm nghĩ của mình căn cứ đơn thuần vào Truyện Kiều không áp dụng những thao tác làm việc của khoa học hiện đại cho nên không tránh khỏi hai nhược điểm: 

 

- Thứ nhất những ưu điểm hay những khuyết điểm mà người ta cấp cho Nguyễn Du đều không phải của riêng Nguyễn Du mà của rất nhiều người. Nói rằng Nguyễn Du đề cao quyền sống con người ca ngợi tình yêu… thì những điều đó hầu hết các nhà văn thời Lê Mạt - Nguyễn Sơ đều làm được. Như vậy là không nêu được những cống hiến chỉ riêng một mình Nguyễn Du làm được trong văn học cổ và đó mới là tiêu chuẩn thực sự để đánh giá một thiên tài.

- Thứ hai Nguyễn Du trở thành một trung tâm tranh cãi vì chỉ căn cứ vào cảm thụ thẩm mỹ của cá nhân người nghiên cứu cho nên người này bảo Nguyễn Du là hiện thực người nọ bảo là lãng mạn người thứ ba bảo là ước lệ. Rồi người thì bảo Kiều là hiếu người bảo Kiều là dâm… Cuộc tranh cãi không bao giờ có thể chấm dứt được.

Chúng tôi có chuẩn bị một công trình nhan đề là “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều ” để tìm cho ra những cống hiến mà chỉ một mình Nguyễn Du làm được đối với văn học cổ. Dưới đây chúng tôi chỉ nói đến một điểm trong công trình này: Nguyễn Du nhà phân tích tâm lý. Mục đích chúng tôi là nêu lên những thao tác kỹ thuật của nhà thơ trong đó không ai làm để chứng minh những điều mới mẻ của nhà thơ với tính cách một người lao động nghệ thuật thực sự mẫu mực. Để làm điều đó chúng tôi đối lập Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện để tìm ra những nét bất biến có trong Truyện Kiều mà không có trong Kim Vân Kiều truyện rồi đối lập những nét ấy với tiểu thuyết Trung Quốc truyện nôm Việt Nam thời đại của tác giả và truyền thống văn học Trung Quốc và Việt Nam để tìm tiếng nói mới về nghệ thuật mà tác giả đưa lại làm thành niềm tự hào của văn học dân tộc. Cái mới lạ của Truyện Kiều về mặt nghệ thuật là: Truyện Kiều là một tiểu thuyết phân tích tâm lý và Nguyễn Du là một trong những nhà văn đầu tiên trên thế giới đã dốc toàn bộ thiên tài của mình vào việc xây dựng một thể loại tiểu thuyết chưa có ở Việt Nam và Trung Quốc đã đành mà ngay cả ở Châu Âu trước ông cũng chưa ai đạt được một thành công to lớn như vậy loại tiểu thuyết phân tích tâm lý. Vì phạm vi bài báo ngắn ngủi chúng tôi chỉ có thể thu hẹp vào một số thao tác.

2- Thứ nhất con người cô độc ra đời

Trong Truyện Kiều các nhân vật làm một chuyện chướng tai gai mắt đối với truyền thống văn học cổ là họ ngồi không. Kiều ngồi một mình 17 đoạn Kim Trọng 7 đoạn Thúc Sinh 2 đoạn Hoạn Thư Mã Giám Sinh mỗi người một đoạn tổng cộng là 474 câu thơ chiếm 15 5 % tác phẩm. Con người trong tiểu thuyết cũ dù đó là Tam quốc chí diễn nghĩa Thủy Hử cho đến Thạch Sanh… đều là những con người hành động mưu mô tính toán không bao giờ ngồi không. Nếu rỗi rãi thì họ làm thơ: Trong Kim Vân Kiều truyện họ làm đến 89 bài thơ! Tiểu thuyết cũ chạy theo hành động.

Với Truyện Kiều đối tượng của tiểu thuyết thay đổi. Nó từ bỏ hành động sự việc bên ngoài để đi vào nội tâm con người. Đây là một bước nhảy vọt của nghệ thuật. Và khi làm như vậy toàn bộ hệ thống thao tác cũ bị đảo lộn. Những thao tác mới ra đời.

Thứ nhất là thời gian nghệ thuật ra đời với tính cách một phạm trù nghệ thuật. Trước Truyện Kiều tiểu thuyết chỉ sống trong hiện tại. Với Truyện Kiều thời gian nghệ thuật xuất hiện. Nó gồm thời gian khách quan đối lập với thời gian nội tâm. Thời gian nội tâm lại tách ra làm ba. Con người ngồi một mình đối chiếu hiện tại với quá khứ và lo lắng cho tương lai. Một sự kiện mà trong tiểu thuyết cũ chỉ nhắc đến một lần thì ở đây nhắc đến bao nhiêu lần cũng được. Thí dụ cuộc thề thốt giữa hai người láy đi láy lại đến 11 lần trong tác phẩm. Tiểu thuyết từ bỏ kiến trúc đơn tuyến để đi vào kiến trúc đa tuyến.

3- Con người cô độc ra đời thì thứ hai thiên nhiên cũng ra đời với tư cách một phạm trù nghệ thuật với ngôn ngữ của nó. Trong Kiều có 222 câu tả thiên nhiên. Nhưng thiên nhiên ở đây có một chức năng giao tiếp riêng. Ngôn ngữ của con người vốn gồm những từ chữ câu tức là những vật khô cứng chắp lại với nhau cho nên bất lực không thể diễn tả được sự hòa hợp giữa hai tâm hồn. Chính vì vậy trong Kiều từ đoạn đi thanh minh đến khi Kim Trọng dọn sang nhà trọ có 244 câu thì đã có 60 tả thiên nhiên. Sở dĩ như vậy là vì tâm trạng hòa hợp của đôi trai gái trong mối tình đầu là trái ngược với tính đứt đoạn (discontinuité) của ngôn ngữ con người. Trái lại khi Kiều được phong làm phu nhân đến khi Từ Hải chết bị ép lấy Thổ quan dài 340 nhưng không có một câu nói đến thiên nhiên cũng như từ khi Kiều gặp lại Kim Trọng đến lúc chấm dứt câu chuyện thiên nhiên cũng vắng mặt. Cũng cần phải nhắc rằng thiên nhiên không hề tồn tại trong Kim Vân Kiều truyện cũng như trong tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Đó là vì tiểu thuyết xưa chạy theo sự việc mưu mô hành động. Đoạn miêu tả thiên nhiên duy nhất đáng chú ý trong tiểu thuyết Trung Hoa là đoạn Tam cố thảo lư trong Tam Quốc Chí nhưng thiên nhiên ở đây rất công thức. Chức năng giao tiếp thứ hai là thiên nhiên xuất hiện khi con người cô độc: Kiều ở lầu Ngưng Bích trước sông Tiền Đường Kim Trọng khi trở lại vườn Thúy… Thiên nhiên lúc này đóng vai phản ảnh tâm trạng và phục vụ cho sự phân tích tâm lý.

4- Trong tiểu thuyết cổ không có ngôn ngữ tác giả. Tác giả chỉ xuất hiện để giới thiệu câu chuyện rồi biến mất để cho hành động tự nó diễn biến. Trong Kiều thì khác. Ngôn ngữ tác giả chiếm tất cả. Chỉ riêng những câu của tác giả dùng để phân tích nội tâm của nhân vật đã chiếm 775 câu thơ tức là 24 2 phần trăm tác phẩm một tỷ lệ phải nói là khủng khiếp. Một thí dụ chứng tỏ cái tài phân tích tâm lý vô song xứng đáng đứng bên cạnh Tôn-xtôi. Đó là đoạn Thúc Sinh về nhà Hoạn Thư gặp lại Thúy Kiều. Đoạn này dài 80 câu (1805-1884) chỉ có 11 câu đối thoại còn toàn là ngôn ngữ tác giả để phân tích nội tâm nhân vật. Kiều bước ra lúng túng (một bước một dừng). Từ xa nhìn thấy Thúc Sinh nàng hoảng hốt không tin vào đôi mắt của mình (Phải rằng nắng quáng đèn lòa. Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?). Nhưng sự thực là sự thực. Nàng vỡ nhẽ nhận thức ngay tình trạng nguy khốn của mình. (Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai). Tuy bên ngoài nàng câm lặng nhưng cơn căm giận bốc lên (Người đâu mà lại có người tinh ma!) Nhưng nàng thấy rõ tình trạng lép vế của mình (Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?) Và cứ thế tâm lý của Thúc Sinh của Hoạn Thư đều được phân tích.

Tác giả không những phân tích nội tâm nhân vật mà còn phân tích cả nội tâm của mình. Và có nhiều lúc tác giả nhảy vào giữa câu chuyện để quát mắng chửi bới. Đây cũng là thủ pháp phiếm luận trữ tình mà sau này ta bắt gặp trong mọi quyển tiểu thuyết của Tôn-xtôi.

5- Thứ tư hành động bị rút xuống tối thiểu trong khi nó là tất cả trong tiểu thuyết cổ trong Kiều chỉ có 575 câu tự sự (17 5 phần trăm tác phẩm). Không có ai tàn nhẫn đối với hành động như Nguyễn Du. Nguyễn Du gạt bỏ mưu mô: mưu mô Thúc Sinh để cứu Thúy Kiều từ nhà Tú Bà trong Kim Vân Kiều truyện chiếm trên một phần hai mươi tác phẩm thì ở đây rút lại 6 câu (2.455-2.461). Ông gạt bỏ mọi chi tiết dù chi tiết ấy hấp dẫn đến đâu. Câu “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” là tương ứng với 1.700 chữ trong bản dịch câu “Thề sao thì lại cứ sao gia hình” là tương ứng với 1.850 chữ trong bản dịch. Nguyễn Du tìm tâm trạng và phanh phui tâm trạng. Chính vì vậy ngay trong phần tự sự cái quan trọng đối với ông không phải là tự thân sự việc mà sự việc ấy được đánh giá như thế nào. Chẳng hạn đoạn “Gia biến” ông ba lần khẳng định đây là một việc làm oan ức (tiếng oan dậy đất rút ngược dây oan oan này những muốn kêu trời). Ông chửi bới bọn sai nha bọn này trở thành lũ đầu trâu mặt ngựa dưới địa ngục mà hành động chỉ là “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”… Tất cả mọi sự phê phán như vậy đều không có trong Kim Vân Kiều truyện vì một lẽ rất bình thường. Tiểu thuyết chương hồi chỉ nói đến sự việc một cách hoàn toàn khách quan không ngụ ý khen chê gì hết. Chưa hết ông đối lập sự việc này với sự việc kia để qua đó người đọc rút ra được những quan hệ mới mẻ. Đoạn trả ân báo oán là đối lập từng chữ một với các đoạn gia biến Hoạn bà và Hoạn Thư trừng trị Kiều. Chính bằng phương pháp này mà Kiều tuy tự sự rất ít vẫn rành mạch lôi cuốn. Đây là phương pháp tự sự của tiểu thuyết hiện đại trước kia không ai biết làm.

6- Quan trọng hơn nữa Truyện Kiều là một tiểu thuyết phân tích tâm lý theo cái nghĩa hiện đại của từ này: con người bị phanh phui tàn nhẫn hết kiệt theo cái nghĩa hóa học của danh từ không để lại một cái cặn nào hết không chút nể nang nhân nhượng. Đồng thời tâm lý con người trải qua một quá trình phát triển biện chứng nó không ngừng thay đổi do những kinh nghiệm trải qua trong cuộc sống do lứa tuổi đưa đến.

Chúng tôi chỉ xin phân tích một đoạn đoạn phanh phui tâm lý của Kiều trước khi khuyên Từ Hải đầu hàng (2.473 - 2.486). Thời Nguyễn Du chưa có danh từ chủ nghĩa cơ hội. Nhưng mặc dầu rất quý trọng Kiều tác giả cũng không thể gượng nhẹ nhân vật mà phanh phui đến cùng tâm lý cơ hội của Kiều. Trước hết là ngu (thật dạ tin người) bị lừa bịp (nghe lời dễ xiêu) do chỗ tham lam vật chất (của nhiều nói ngọt). Sau đó là ngại gian khổ (nghĩ mình mặt nước cánh bèo) cho nên định hy sinh cái hiện có (chịu tiếng vương thần) để mong được cái tưởng tượng (thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì). Cái viễn ảnh giả dối làm nàng mê mẩn nàng tự lừa dối mình (Công tư vẹn cả hai bề) rồi vênh váo (nở nang mày mặt)… nghĩ đến chức tước quyền lực mua được bằng đầu hàng (cũng ngôi mệnh phụ). Để trấn áp những ý nghĩ xấu xa nhơ bẩn này nàng cuối cùng đưa ra cái đạo lý phong kiến mà nàng trước đó không bao giờ nghĩ đến (Trên vì nước dưới vì nhà)… Cuối cùng đạo đức được đưa ra để bào chữa cho hành động phản bội. Phân tích như thế là chính xác đúng khoa học khách quan và tàn nhẫn đến cùng. Cách làm này không những ở Việt Nam Trung Quốc không ai làm được mà ngay cả ở Châu Âu phải đợi đến Xtan-đan tức là sau 1830 mới có người làm được.

 Nguyễn Du phân tích con người tới điểm tới hạn nhưng lại biết tìm ra cái biện chứng pháp của tâm hồn. Về điểm này chỉ có Tôn-xtôi mới sánh được. Nguyễn Du cắt nghĩa hành động đầu hàng của Kiều bằng cả một quá trình diễn biến. Kiều chính là người dại dột nàng đã bị Mã Giám Sinh Sở Khanh Bạc Hạnh lừa. Nàng sợ gian khổ luôn luôn lo lắng ta thấy rất rõ điều đó ngay khi nàng gặp Kim Trọng. Nàng tham ta thấy nàng lấy vàng bạc của Hoạn Thư. Nàng ham quyền lực ta thấy điều đó khi nàng dưới quyền Hoạn Thư và khi làm phu nhân. Tóm lại con người biến đổi nhưng vẫn là chính nó. Con người ấy trước Kiều chưa có trong văn học Châu Á.

7- Con người trong văn học tiền Nguyễn Du là con người nhất phiến họ có thể làm những điều khác trước như Tào Tháo làm khác khi là viên quan nhỏ và khi là thừa tướng nhà Hán nhưng sự khác nhau này là do hoàn cảnh đưa đến không phải do sự phát triển của bản thân tính cách. Tính cách của họ không có quá trình. Với Nguyễn Du tính cách con người là một quá trình. Ta hãy phân tích tình yêu của Thúy Kiều thì thấy rất rõ cái gọi là biện chứng pháp của tâm hồn danh từ mà phê bình văn học dùng để gọi cách phân tích nội tâm của Tôn-xtôi và Đô-xtôi-ep-xki.

Tình yêu của Kiều với Kim Trọng lúc đầu là tình yêu đầu tiên của cô gái ngây thơ. Kiều có đủ can đảm hy sinh mình cho cha mẹ nhưng không có đủ can đảm thấy người yêu đau khổ. Sau này khi thất thân với Mã Giám Sinh và bị Sở Khanh lừa dối nàng có kinh nghiệm. Nàng nơm nớp lo sợ bị lừa dối. Cho nên tình yêu với Thúc Sinh hoàn toàn là sự tính toán không có yếu tố đắm say. Đến khi gặp Từ Hải tình yêu thành sự thán phục. Sau này gặp lại Kim Trọng chỉ còn lại một chút nghĩa cũ càng: Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi. Phân tích cái phép biện chứng của tâm hồn đến thế là cùng. Chính vì những nhân vật của Nguyễn Du đi theo cái biến chứng pháp của tâm hồn phục tùng sự diễn biến nội tại của cái lô-gic phát triển của tính cách cho nên Nguyễn Du không chia nhân vật thành hai tuyến rõ rệt là nhân vật tích cực và nhân vật tiêu cực. Một người như Kiều Kim Trọng đều có vô số những điều mà mới thoạt nhìn sẽ là mâu thuẫn. Hoạn Thư đáng yêu hay đáng ghét? Thúc Sinh dại gái nhút nhát nhưng chân thành. Từ Hải anh hùng nhưng hồ đồ Kim Trọng chung thủy nhưng hiếu sắc. Đời sau hay dựa vào từng điểm một của tính cách để khen hay chê. Nhưng ai đã đi con đường biện chứng pháp của tâm hồn cũng đều dẫn tới tình trạng này: tác phẩm của họ là một thao trường tranh cãi không bao giờ dứt được. Có năm người như thế và các cuộc tranh cãi trên thế giới thường xoay chung quanh bốn người ấy. Trước Nguyễn Du có Sếch-xpia và Gơ-tơ sau Nguyễn Du có Tôn-xtôi và Đô-xtôi-ep-xki. Việc khen hay chê là quyền mỗi người nhưng khen và chê thì phải biết lý do nghệ thuật gì dẫn tới điều đó.

8- Những điều trên theo chúng tôi cũng đủ để chứng minh những đóng góp của Nguyễn Du mà ở Việt Nam trước tác giả không ai làm được. Nhưng trên thế giới vẫn có người làm được. Có điều Nguyễn Du là người duy nhất trong văn học loài người làm được là ở chỗ khác: Truyện Kiều là quyển bách khoa toàn thư của một vạn tâm hồn. Người ta bảo Sếch-xpia là tác giả của một vạn tâm hồn. Nhưng Sếch-xpia phải viết hàng chục vở kịch. Còn chỉ trong một tác phẩm ngắn có độc 3.254 câu thơ mà có đủ mọi tâm trạng thì đó là điều chỉ có cụ Nguyễn làm được. Ông làm được là vì dùng phương pháp phân tích tâm lý tàn nhẫn. Người xem thấy chính tâm lý của mình được phanh phui đến mức độ chính mình cũng không thấy rõ đến thế. Thế rồi nẩy sinh tình trạng nghiện mỗi lúc trong lòng có băn khoăn thắc mắc lại giở Kiều ra xem lại thấy tâm trạng của mình ngay lúc đó.

Điều này tạo nên ở người đọc một sự bàng hoàng khiếp sợ tưởng chừng như tác phẩm này chứa đựng một sức mạnh gì huyền bí. Từ chỗ giở Kiều để tìm tâm trạng người ta giở Kiều bói Kiều để tin hiểu về tương lai. Hiện tượng bói Kiều nẩy sinh từ đó.

Trong phạm vi một bài báo ngắn ngủi chúng tôi chỉ trình bày sơ bộ một vài suy nghĩ giúp bạn đọc thấy rằng: ở nước Việt Nam vào thế kỷ trước có một người lao động nghệ thuật thực sự mẫu mực… Và nghệ thuật ngay cả nghệ thuật của các nhà văn thiên tài cũng không phải là nơi bất khả xâm phạm đối với khoa học thế kỷ XX.

                                                                                                                                              

                                                                             P.N.
                                                                                                     

                                                                        (11/1&2-85)

 

More...