Thời gian tâm lí trong thể loại ngâm khúc

By Đinh Hà Triều

Thời gian tâm lí trong thể loại ngâm khúc

                                                                                  ĐINH HÀ TRIỀU

alt

 

 

 

          Trong thơ trung đại thế kỉ XVIII có một  thể loại đặc biệt thành công đó là thể ngâm khúc: Chinh phụ ngâm ( Nguyên tác: Đặng Trần Côn- dịch giả: Đoàn Thị Điểm?); Cung oán ngâm khúc ( Nguyễn Gia Thiều) ; Ai tư vãn ( Lê Ngọc Hân) ; Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ)... Nếu xét trên quy mô trữ tình các bài thơ tứ tuyệt luật thi bài luật hát nói ..  có dung lượng khá nhỏ ngược lại ngâm khúc là những khúc trữ tình dài hơi do dựa trên cốt tự tình nên đã mở rộng dung lượng trữ tình. Cũng do đó mà thời gian nghệ thuật có thêm nhiều hình thức mới phong phú.


 

          Chinh phụ ngâm là nỗi nhớ nhung triền miên muốn bộc lộ với chồng là câu hỏi về số phận tuổi trẻ của người chinh phụ. Thời gian trong tác phẩm là một thời hiện tại mong nhớ kéo dài vô tận.

          Ngay từ năm 1950 trong vùng tự do Khu Bốn GS Đặng Thai Mai viết Giảng văn Chinh phụ ngâm. Trong tập sách này ông đã lưu ý đến thời gian nghệ thuật trong khúc ngâm khi giảng về đoạn mở đầu: “Một điều đáng chú ý nữa là lối vận dụng khái niệm thời gian trong cuốn “ truyện”. Cuộc li biệt ở đây là câu chuyện hai năm ba bốn năm về trước- như ta sẽ thấy trong mấy đoạn sau- nhưng trong đoạn trình bày mở đầu này nó dường như tiến hành trước mắt độc giả. Văn phẩm các nước Âu Tây thường nói đến lối dùng thì “ present narratif” là lối dùng thì hiện tại của động từ trong khi nhắc lại một việc đã qua để cho câu chuyện có vẻ linh động. Nhưng ở đây tác giả và dịch giả tập “Chinh phụ ngâm” đã xoá mờ hẳn quan niệm thời gian đã vận dụng một bút pháp riêng biệt có thể nói là siêu thời gian trong khi trình bày một câu chuyện dĩ vãng. Văn tự sự trong đoạn này đã hút được trong bầu trời hiện tại cả một luồng sinh lực mới” [ 4; 389].

          Thời gian đợi chờ là thời gian đằng đẵng:

-        Khắc giờ đằng đẵng như niên

-        Mối sầu dằng dặc như miền ải xa

-        Non Yên dù chẳng tới miền

    Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời

          Để nhấn mạnh đến sự kéo dài vô tận của thời gian tâm lí các tác giả đã so sánh đơn vị thời gian nhỏ ( khắc giờ) với thời gian lớn ( niên= năm); so sánh thời gian với không gian ( miền ải xa đường lên ...trời). Kết cấu trùng phức thời gian trong đoạn được đưa vào sách giáo khoa Văn học 10 dưới nhan đề “ Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ” ( từ câu 125 đến câu  140) là một đoạn rất tiêu biểu:

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu

Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca

Nay quyên đã giục oanh già

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió

Hỏi ngày về chỉ độ đào bông

Nay đào đã quyến gió đông

Phù dung lại rã bên sông ba xoà

Hẹn cùng ta Lũng Tây nham ấy

Sớm đã trông nào thấy hơi tăm

Ngập ngừng lá rụng cành trâm

Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao

Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ

Chiều lại tìm nào có tiêu hao

Ngập ngừng gió thổi áo bào

Bãi Nam tuôn rẫy nước trào mênh mông

          GS. Đặng Thai Mai đã giảng rất hay về đoạn thơ này:

          “ Tác giả đã đem hai trạng thái thực và hư mà đối chiếu lại để khêu gợi lên cả một bầu không khí thất vọng. Đại ý của khúc ngâm này là nỗi thất vọng thành hình trên những lời hứa mà sự thực đã làm cho sai suyển...Hứa hẹn là một câu chuyện có thật (thực) nhưng sự thực đã biến nó thành một câu chuyện hão (hư)” (...) hư với thực có với không giả dối với chân thật màu sắc với hư vô thanh âm với im lặng đã chằng chịt lấy nhau bám víu vào nhau pha lẫn cùng nhau để đúc thành cái cảm giác thất vọng của tâm hồn trước sự tráo trở của thực tế.[4; 402].

          Bên cạnh thời gian tâm lí khúc ngâm còn thể hiện mâu thuẫn giữa thời gian khách quan với thời gian tuổi xuân niềm tiếc thương hiện tại tuổi trẻ:

- Một năm một nhạt mùi son phấn

Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi

-Thoi đưa ngày tháng ruổi mau

Người đời thấm thoắt qua màu xuân xanh

- Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở

Tiếc quang âm lần lữa gieo qua

Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa

Gái tơ mấy chốc hoá ra nạ dòng

          Cuối khúc ngâm tuy cũng nói tới tương lai ngày trở về :

“ Xin vì chàng xếp bào cởi giáp

Xin vì chàng rũ lớp phong sương

Vì chàng tay chuốc chén vàng

Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng’

          Nhưng màn tái hợp này cũng đâu phải là một sự thực. ‘Người thiếu phụ này đang nói sảng trong một cơn mê” [4; 418] . Nên từ đó có thể nói : khẳng định ý nghĩa của thời gian hiện tại mới là đặc sắc của khúc ngâm” [ 12; 252] và đó là một hiện tại nhớ mong thất vọng hờn oán. Sức mạnh “phản chiến” của khúc ngâm đối với các cuộc chiến tranh phong kiến nằm ngay trong cảm hứng thời gian đó.

 

Nguyễn Gia Thiều (1741- 1798) với Cung oán ngâm khúc đã đưa thể ngâm khúc lên đến trình độ “cổ điển”. Người đời nay phải kinh ngạc trước dụng công của nhà nghệ sĩ tài ba này và dễ đồng tình với Lý Văn Phức (1785-1840) trong nhận xét về nghệ thuật khúc ngâm “ Thiên đoàn bách luyện ngữ ngữ kinh nhân” (Trăm nghìn lần điêu luyện mỗi câu đọc lên nghe đến ghê người ). Giáo sư Nguyễn Lộc nhận xét: “Đọc Cung oán ngâm khúc” người ta có cảm tưởng như đi vào một ngôi đền cổ vàng son lộng lẫy có phượng múa rồng bay chạm trổ cực kì tinh vi khéo léo…Nguyễn Gia Thiều đã thể hiện một cách đầy đủ nhất đậm nét nhất những đặc trưng của một nghệ thuật có tính chất quý tộc” [ 33; 267 ]. Chúng tôi nghĩ rằng cái hay của thơ cũng đa dạng như vẻ đẹp của mĩ nhân có vẻ đẹp nhẹ nhàng thanh thoát có vẻ đẹp nồng diệm có vẻ đẹp giản dị lại có vẻ đẹp đài các kiêu sa. Miễn là đẹp và cái đẹp ấy là không thể thay thế được. Vì thế bên cạnh giá trị tố cáo hiện thực đòi quyền sống cho con người và những khái quát triết lí trữ tình sâu sắc Cung oán ngâm khúc bất tử một phần còn vì nghệ thuật của nó.

          Tác phẩm dày đặc các tín hiệu thời gian thể hiện rõ cách thức quan niệm và cảm nhận thời gian là một minh chứng cho vai trò quan trọng của thời gian trong thể hiện tâm trạng. Cảm hứng thời gian xuất hiện ngay từ khổ đầu:

Trải vách quế gió vàng hiu hắt

Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng

          Từ “Trải” cho ta biết tác giả đang nói về thời gian đã qua hoà nhập trong không gian của mùa thu buồn bã ( gió vàng hiu hắt). Nàng cung nữ sống trong hiện tại nhưng luôn hoài niệm quá khứ chất chứa tâm trạng buồn thương phẫn uất (Vì đâu nên nỗi dở dang/ Nghĩ mình mình lại thêm thương nỗi mình). Đó là hiện thực tâm trạng nổi bật nhất trong khúc ngâm.

          Sau khúc mở đầu (8 câu) hình ảnh người cung nữ thể hiện qua những hồi ức về một thời dung nhan lộng lẫy (gắn với biểu tượng Hoa- Mùa Xuân: phù dung thược dược hải đường đào mai mẫu đơn hoa xuân cành xuân cành hoa xuân vườn xuân xuân tiêu  gió đông …). Còn thời gian hiện tại tâm trạng người cung nữ luôn gắn với biểu tượng mùa thu: gió vàng;  vẻ thu giọng bi thu thu phong … Bây giờ mùa xuân chỉ còn là một kí ức xa vời kí ức một thời xa ngái. Tuy nhiên thời gian tự nhiên vẫn cứ tuần hoàn. Mùa Xuân  khách thể ( gió xuân hoa xuân ..) không còn được cảm nhận như một vẻ đẹp mà lại là hàm chứa nỗi nuối tiếc bực dọc day dứt bất bình:

-       Nào dạo lối vườn hoa năm ngoái

Đoá hồng đào hái buổi còn xanh

-       Một mình đứng tủi ngồi sầu

Đã than với nguyệt lại rầu với hoa

-       Hoa này bướm nỡ thờ ơ

Để gầy bông thắm để xơ nhị vàng

          Những đặc điểm thời gian nghệ thuật còn được biểu hiện sâu sắc qua các cung bậc tâm lí thời gian tâm lí và tâm trạng. Với người cung nữ thời gian hạnh phúc trôi qua rất nhanh như “bóng câu thoáng bên mành”. Từ ngày “ thất sủng” người cung nữ thấy thời gian như ngưng đọng tù túng tạo nên mạch trữ tình chi phối toàn bộ tác phẩm:

Đêm phong vũ lạnh lùng có một

Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh

- Trong cung quế âm thầm chiếc bóng

Đêm năm canh trông ngóng lần lần.

          Cách đếm thời gian như vậy tự thân đã bao hàm nỗi cô đơn trống vắng tính lặng : Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u. Đặc điểm đó tạo nên tính chất đối lập sâu sắc giữa thời gian hiện đại và thời gian quá khứ giữa hiện thực buồn tủi và kí ức về một thời đã xa tạo nên nghịch lí khi thì thấy thời gian qua nhanh khi lại thấy quá chậm. Nội dung trữ tình đó đã thông qua sự cảm nhận thời gian mà lên tiếng kết án kẻ đã dồn con người vào cảnh cô đơn bế tắc mất hết mọi niềm vui:

Đêm năm canh lần nương vách quế

Cái buồn này ai dễ giết nhau

Giết nhau chẳng cái lưu cầu

Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa!

          Trong chuỗi ngày cô độc nàng vẫn thấp thoáng một chút hi vọng mong manh mơ hồ:

Phòng khi động đến cửu trùng

Giữ sao cho được má hồng như xưa

          Nhưng hi vọng mong manh ấy đã chạm  phải mặc cảm “ dung nhan phai nhạt”. Khúc ngâm không thể hiện thời gian hiện tại bởi hiện tại là trống rỗng thất vọng chán chường. Điều này càng bộc lộ rõ vai trò của sự biểu hiện  thời gian nghệ thuật trong việc phản ánh tâm trạng của người cung nữ phản ánh nội dung trữ tình và nâng cao ý nghĩa khái quát sức tố cáo của tác phẩm trên cơ sở ý thức về số phận tài năng và quyền được hưởng hạnh phúc trần thế hiện thực của con người.

          Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định Cung oán ngâm khúc có sự đan xen hai mạch trữ tình: Nguyễn Gia Thiều không viết riêng về cuộc đời bất hạnh của người cung nữ mà thông qua đó bộc lộ những phẫn uất bất bình của mình trước hiện trạng xã hội đương thời. Trên phương diện nghệ thuật cách thức cảm nhận và  biểu hiện thời gian tâm trạng đặc biệt có ý nghĩa trong việc mô tả nỗi lòng người cung nữ và những nhận thức về xã hội nhân sinh. “ Toàn bộ những khối mâu thuẫn đó đã  được chuyển đổi thành nghịch lí trong sự biểu hiện thời gian tâm trạng thời gian nghệ thuật: con người luôn mơ tưởng về quá khứ chứ không phải về tương lai; hi vọng về tương lai chỉ là vòng khép trở về quá khứ mong được như thời quá khứ”[3; 74].

 

          Trên lĩnh vực chính trị quân sự cuối thế kỉ XVIII lịch sử nước ta xuất hiện một tài năng lỗi lạc: Nguyễn Huệ- Quang Trung. Quang Trung mất đột ngột (1792) khi tuổi đời còn khá trẻ khi bao nhiêu dự định lớn lao còn ở phía trước. Đó là một tổn thất lớn của dân tộc và gây nên nỗi xúc động luyến tiếc đớn đau cho những người gần gũi với ông và cũng là các văn nhân hàng đầu của đất nước như Ngô Thì Nhậm Phan Huy Ích ..Nhưng viết về cái chết của vua Quang Trung xúc động và sâu sắc nhất phải kể đến bài Ai tư vãn của Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân (1770-7799). Trong Ai tư vãn Ngọc Hân hồi tưởng lại mối tình của mình với vua Quang Trung:

Rút dây vâng mệnh phụ hoàng

Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy

Trăm nghìn dặm quản chi non nước

Chữ “ nghi gia”  mừng được phải duyên

Sang yêu muôn đội ơn trên

Rỡ ràng vẻ thuý nổi chen tiếng cầm”

          Ngọc Hân nói lên nỗi lo lắng khi nhà vua lâm bệnh nỗi đau khổ thống thiết của mình trước cái chết của Vua. Có lúc Ngọc Hân muốn tự tử nhưng nghĩ thương hai con bé dại nàng không thể chết được. Công chúa cựu triều tự hào về chồng mình một người xuất thân áo vải nhưng sự nghiệp cứu nước cứu dân vô cùng hiển hách:

Nghe trước có đấng vương Thang Võ

Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao

Mà nay áo vải cờ đào

Giúp dân dựng nước biết bao công trình!

Nghe rành rành trước vua Nghiêu Thuấn

Công đức dày ngự vận càng lâu

Mà nay lượng cả ơn sâu

Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần

Công nhường ấy mà nhân dường ấy

Cõi thọ sao hẹp bấy hoá công?

          Trong niềm tiếc thương đau xót vô hạn những dòng trữ tình của Ngọc Hân xuất hiện thời gian ảo giác nó là hình bóng huy hoàng của một con người cái thế vừa từgiã  cõi đời một mối tình của đôi trai tài gái sắc đang độ nồng nàn chợt tan vỡ:

Khi trận gió hoa bay thấp thoáng

Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu

Vội vàng sửa áo lên chầu

Thương ôi vắng vẻ trước lầu nhện giăng

Khi bóng trăng lá in lấp lánh

Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi

Vội vàng dạo bước tới nơi

 Thương ôi vắng vẻ giữa trời tuyết sa!

          Trong tình thế ấy sự đối lập xưa nay không tránh khỏi xót xa:

Xưa sao sớm hỏi khuya bày

Nặng lòng vàng đá cạn lời tóc tơ!

Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ

Tình cô đơn ai kẻ xét đâu!

Xưa sao gang tấc gần chầu

Trước sân phong nguyệt trên lầu sênh ca

Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi

Tin hàn huyên không hỏi thăm nhanh

Nửa cung gãy phiếm cầm lành

Nỗi con côi cút nỗi mình bơ vơ

Ngày hạnh phúc thật ngắn ngủi cuộc đời đầy biến động không lường:

-        Cuộc tụ tán bi hoan kíp bấy

-        Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai

-        Phút giây bãi bể nương dâu

đối lập gay gắt với tình nghĩa mặn nồng và nỗi đau đoạn trường miên viễn:

Chữ tình nghĩa trời cao đất rộng

Nỗi đoạn trường còn sống còn đau

          Nếu như người chinh phụ nhớ chồng oán trách người “ trên trướng gấm”- tức nhà vua người phát động chiến tranh- người cung nữ oán trách vua (nhưng ông vua này không phải là một người chồng thực sự) thì Ngọc Hân oán trách “ nhân duyên” “phận số” oái oăm làm lở dở mối duyên lành làm mất đi một người chồng thực sự trong cuộc đời mình (biết khuyên  bảo vợ đùm bọc gia đình nhà vợ và cùng vợ sinh con đẻ cái):

Nỗi lai lịch dễ hầu than thở

Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao?

Sầu này thăm thẳm xiết bao

Sầu đầy giạt bể thảm cao ngất trời

 

Từ những khảo sát trên ta dễ dàng nhận thấy bằng một quan niệm về con người sát với thực tế đó là những con người đã dám “ kêu to lên nhu cầu về quyền sống cá nhân quyền hưởng hạnh phúc cá nhân như một quyền tự nhiên ý thức về tài năng giá trị của mình cùng việc mở rộng dung lượng trữ tình các khúc ngâm đã thể hiện sâu sắc bước biến chuyển trong hư cấu nghệ thuật về mặt thời gian. Các khúc ngâm được xây dựng trên nền thời gian tâm lí thời gian tâm trạng của nhân vật trong những cảnh ngộ phong phú. Người vợ chờ chồng nhớ chồng đang chinh thú nơi xa sống với thời gian hiện tại buồn lo hồi hộp thất vọng vì “Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai”; người cung nữ bị thất sủng luôn mơ tưởng đến thời gian quá khứ được vua sủng ái yêu chiều; người vợ trẻ mất chồng luôn tưởng nhớ đến độ ảo giác những ngày lửa hương nồng thắm  và rực rỡ hào quang của một sự nghiệp lẫy lừng. Như vậy ý thức hư cấu sáng tạo của các tác giả đã đưa văn học chữ Nôm đạt được tầm cao mới cùng với truyện thơ tạo nên thời hoàng kim của văn học dân tộc.

More...

MỘT CHỮ GÂY MEN TRONG BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

By Đinh Hà Triều


MỘT CHỮ GÂY MEN TRONG BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

 

               9h30 sáng 6/5/2010 thi sĩ "Lá diêu bông" đã nhẹ bước vào cõi hư không để lại một di sản tinh thần độc đáo tài hoa in dấu ấn riêng biệt vào lịch sử văn chương Việt Nam. Bài viết nhỏ này xin được như một nén tâm hương tưởng nhớ nhà thơ 

 

 


 

                                                                                                    

                                                               

                    Mỗi một nghệ sĩ chân tài là một cá tính sáng tạo mạnh mẽ. Không giẫm trên những lối mòn cả trong cảm nhận và biểu đạt– hai phương diện ấy như hai cẳng chân của  cơ thể con người như cách ví von của nhà văn Nguyễn Tuân. Biểu đạt trong văn chương trước tiên đòi hỏi sự  dụng công ở từ ngữ. Nhiều người vẫn thừa nhận câu nói “ Chữ bầu nên nhà thơ”. Thưởng thức giảng dạy tác phẩm văn chương do đó cũng  không thể né tránh công phu tìm hiểu cái độc đáo trong cách thức cảm nhận và biểu đạt của từng tác giả qua từ ngữ  ít nhất là ở những tác phẩm tiêu biểu có tính chất kết tinh .

More...

Cái quan trọng ….là ….. “tiếng nói của mình”

By Đinh Hà Triều


Cái quan trọng ….là ….. “tiếng nói của mình

 

 

 

 

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão ở cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI nhất là công nghệ thông tin công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới không ai ngạc nhiên khi nghe các tin quảng cáo công ty này cơ quan nọ thanh lí những thiết bị “ lỗi đời”. Họ thanh lí cái ‘ đời cũ” để được thụ hưởng “ sự hơn hẳn” của cái “ đời mới”. Nhưng nhất định chúng ta sẽ ngạc nhiên đến mức sững sờ nếu có ai đó đưa ra ý định loại bỏ trong chương trình giảng dạy văn học ( tức là tước đi quyền được thụ hưởng của người học và phần nào là người dạy) những tác phẩm văn học được viết ra từ quá lâu để thay hoàn toàn vào đó bằng những tác phẩm hiện đại đương đại. Sự so sánh nào đương nhiên cũng không tránh khỏi sự khập khiễng nhưng dù sao một so sánh như thế cũng cho ta ý niệm về tính chất không thể thay thế không thể bị thời gian vượt qua của một thứ sản phẩm đặc biệt – tác phẩm văn học- và đi kèm với nó là một kiểu nhà sản xuất đặc biệt- nhà nghệ sĩ. Nói như thế hoàn toàn không có nghĩa là bất kì tác phẩm văn học nào tác giả văn học nào cũng đều được nhân loại dân tộc nặng tình quyến luyến như thế. Chỉ có những tác phẩm thật sự có giá trị tác giả thật sự tài năng mới có được vinh dự ấy. Mà muốn trở thành tác giả tài năng thì phải có tác phẩm-thật -sự-in - đậm - dấu-ấn-tài-năng. Dấu hiệu của tài năng thể hiện trên nhiều phương diện của tác phẩm nhưng để có một ý niệm chung nhất về nó ta có thể tham khảo ý kiến sau đây của nhà văn Nga Ivan Tuôcghênhep: “ Cái quan trọng trong tài năng văn học là cái mà tôi muốn gọi là tiếng nói của mình”.

More...

“LỜI YÊU MỎNG MẢNH NHƯ MÀU KHÓI”

By Đinh Hà Triều

 

“LỜI YÊU MỎNG MẢNH NHƯ MÀU KHÓI”

 

( Đọc tập thơ TRONG EM CÓ NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÁC của Vũ Thanh Hoa (Xem thơ tại đây))

 


 

 

 

 

 

 

 

Vũ Thanh Hoa tâm sự : “Tôi viết Văn làm Thơ từ khi 8 tuổi và chủ yếu dựa vào bản năng”.  8 tuổi ai chẳng viết theo “bản năng”….! Người trong cuộc bao giờ cũng khiêm nhường nhưng người “ngoại vi” như tôi có thể nghĩ đó là một thiên ân thiên bẩm “thông minh vốn sẵn tính trời” ở nàng thơ Vũ Thanh Hoa.

More...

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ

By Đinh Hà Triều

 

        TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ

 

 

 

Tư Mã Thiên đã đánh giá Khổng Tử  như sau: “Trong thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều khi sống thì vinh hiển nhưng lúc chết là hết. Khổng Tử là một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời các học giả đều tôn làm thầy từ thiên tử tới vương hầu ở Trung Quốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn. Có thể gọi là bậc chí Thánh vậy” ( Sử kí- Khổng Tử thế gia).

More...

NHẨN NHA VỚI “ NGÀY RÊU XANH” của ĐÀO VIẾT BỬU

By Đinh Hà Triều


NHẨN NHA VỚI “ NGÀY RÊU XANH”

( Xem buổi ra mắt tập thơ và một số bài trong tập tại đây)

 

 

 

            Cầm trên tay bản thảo tập thơ “Ngày rêu xanh” của anh Đào Viết Bửu lòng tôi bỗng trào dâng một mối xúc cảm khó nói cho thật ngọn ngành! 

 

            Trải bốn chục năm làm thơ cũng đã hơn ba mươi năm là hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật Bình Định từng nhiều lần dự trại sáng tác  giao lưu rộng rãi với bạn thơ khắp trong Nam ngoài Bắc mà bây giờ anh mới ngập ngừng trình làng tập thơ đầu tay. Ở tuổi sáu mươi!...

More...

Nhạc điệu của lời thơ.

By Đinh Hà Triều


       Nhạc điệu của lời thơ

 


 

 

Từ nguồn gốc xa xưa của mình lời thơ vốn là chuỗi lời nói được sáng tác ra để hát hoặc ngâm lên có thể được các nhạc cụ đệm theo. Thơ với nhạc gần nhau là vì vậy. Chất nhạc trong lời thơ thể hiện qua luật thơ âm điệunhịp điệu của nó:

More...

CHỦ THỂ PHÁT NGÔN TRONG THƠ

By Đinh Hà Triều

 

 

 

                CHỦ THỂ PHÁT NGÔN TRONG THƠ

 

 


 

 


Lời văn trong truyện- kí có chung một đặc tính là lấy việc mô tả kể lại những câu chuyện những sự việc diễn ra trong cuộc sống xã hội làm chính. Cảm nghĩ thái độ cách đánh giá của nhà văn thường giấu kín trong bản thân câu chuyện chứ không được làm nổi bật lên chiếm vị trí chủ đạo thành đối tượng thưởng thức trực tiếp của người đọc.

More...

Thơ là gì ?

By Đinh Hà Triều


                                      Thơ là gì?

 

 

Có những hiện tượng rất quen thuộc người ta nghe nói hằng ngày nhưng khi phải đi tìm cho nó một định nghĩa chính xác thì thật không dễ. Trong lĩnh vực văn học thơ là một loại hiện tượng như vậy. Chúng ta vẫn thường đọc thơ ngâm thơ học thơ giảng thơ đôi lúc làm thơ. Chúng ta cũng vẫn thường nói: “Tâm hồn con người ấy đẹp như thơ. Cuộc sống quanh ta rất giàu chất thơ”. Nhưng nếu ai hỏi chúng ta : “Vậy thơ là gì?” thì có lẽ nhiều người trong chúng ta thật sự lâm vào lúng túng.

More...

Tiểu thuyết “An Tư” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (phần cuối)

By Đinh Hà Triều

III- KẾT LUẬN

 

3.1- Cảm hứng rõ nét nhất trong tiểu thuyết An Tư là cảm hứng yêu nước và tự hào dân tộc. Nhà văn đã chọn đúng một giai đoạn lịch sử tiêu biểu để xây dựng tác phẩm. Chọn cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ hai tác phẩm đương nhiên đạt đến một cái kết có hậu như mong muốn và quen thuộc trong cách tiếp nhận văn học truyền thống. Tuy nhiên cái kết có hậu ấy không hề làm giảm sức ám ảnh của tiểu thuyết vì hai nhân vật chính của chúng ta – An Tư và Trần Thông- sau khi thực hiện trọn vẹn sứ mệnh mà quốc gia dân tộc phó thác đã anh dũng hi sinh. Cái chết của họ nhắc nhở chúng ta về cái giá của lịch sử cái giá phải trả cho nền độc lập tự chủ tự cường: “Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình tâm”.

More...