ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I I – Môn Ngữ văn 11- Ban cơ bản

By Đinh Hà Triều

SỞ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH

TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU 

 

                                                               ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I I –                        

 

                                                             Môn Ngữ văn 11- Ban cơ bản

 

 

                                        (Thời gian làm bài 90 phút không kể thời gian giao đề)

 

 

 

Mã đề: 135                                                                    

PHẦN I: TRẮC NGHIỆM ( 3 điểm)

 

Ô TRẢ LỜI TRẮC NGHIỆM

 

Câu

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Đáp án

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1. Cái độc đáo nhất của bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác của Ăng-ghen so với bài điếu văn thông thường là:

A. Tác giả đã vận dụng một nghệ thuật lập luận khéo léo đạt hiệu quả tác động cao.

B. Tác giả đã tô đậm sự bi thảm của cái chết để bày tỏ lòng thương tiếc đối với người đã khuất.

C. Tác giả không nói nhiều về cái chết mà nhấn mạnh ý nghĩa của sự sống của cuộc đời người quá cố.

D. Cả B và C

 

2. Dòng nào viết không đúng về loại văn bản  tiểu sử tóm tắt ?

A. Tiểu sử tóm tắt phải do chính bản thân viết khi cảm thấy sức khoẻ mình đã suy yếu nghiêm trọng.

B. Tiểu sử tóm tắt không nhất thiết phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

C. Tiểu sử tóm tắt yêu cầu ngắn gọn nhưng đầy đủ chính xác.

D. Tiểu sử tóm tắt không cần nêu đầy đủ chi tiết mọi  quan hệ xã hội của một cá nhân.

 

3. Dòng nào viết đúng nhất về thao tác lập luận bình luận?

A. Bình luận nhìn chung là sự kết hợp của hai kiểu lập luận giải thích và chứng minh

B. Bình luận là trình bày nhận xét đánh giá bàn luận của mình về một vấn đề nào đó.

C. Mục đích của bình luận là giúp cho người nghe (người đọc) hiểu rõ nhận định được nêu.

D. Bình luận giúp cho người nghe (người đọc)  tin rằng vấn đề đang bàn luận là có bằng chứng sự thật.

 

4. Trong đoạn trích Một thời đại trong thi ca Hoài Thanh có viết: “Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta. Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều một điều cần hơn trăm nghìn điều khác [...]”.

Cái “điều cần hơn trăm nghìn điều khác” đó là gì?

A. Một ý thức cá nhân đầy đủ.                                                           B. Một ý thức cộng đồng đầy đủ.

C. Một tình yêu đầy đủ.                                                                     D. Một lòng tin đầy đủ.

 

5. Câu “ Khi Chí Phèo mở mắt thì trời sáng đã lâu. Mặt trời chắc đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ” (Nam Cao - Chí Phèo) biểu hiện nghĩa tình thái gì?

A. Tình cảm thân mật gần gũi.                                  B. Đánh giá sự việc có thực hay không có thực.

C. Khẳng định tính chân thực của sự việc                                D. Phỏng đoán sự việc xảy ra với độ tin cậy nhất định.

 

6. Vào những thập niên đầu thế kỉ X X ai là người phê phán  quan lại …. “Là lũ ăn cướp có giấy phép”

A. Nguyễn An Ninh                B. Phan Châu Trinh    C. Phan Bội Châu                  D. Nguyễn Ái Quốc

 

 7. Sự vận động của cảnh vật và con người từ hai câu đầu đến hai câu cuối trong bài Chiều tối cho thấy đặc điểm gì trong tâm hồn Hồ Chí Minh?

A. Luôn hướng tới lao động hoạt động vận động.   B. Luôn hướng tới con người cảnh vật lao động.

C. Luôn hướng tới sự sống ánh sáng tương lai.      D. Luôn hướng tới niềm vui lạc quan yêu đời.

 

8. Nguyên tắc chung mà Hoài Thanh đưa ra để định nghĩa Thơ mới là gì?

A. Căn cứ vào đại thể                                     B. Căn cứ vào cái hay và nhìn vào  đại thể

 C. Căn cứ vào cái hay                                   D. Căn cứ vào cái hay cái đại thể và cả cái dở cái tiểu tiết 

9.  Một thao tác quan trọng thường được vận dụng trong tranh luận thảo luận. Đó là thao tác gì?

A. Phân tích                                                                  B .Quy nạp      

C .Bác bỏ                                                                      D. So sánh

 

10. Trong nhận xét sau đây có thể điền tên tác giả nào vào chỗ trống: "Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân dù lúc vui hay lúc buồn ………………..cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía."       (Vũ Ngọc Phan _ Nhà văn hiện đại)

A. Hàn Mặc Tử                       B. Huy Cận                             C. Chế Lan Viên                     D. Xuân Diệu        

 11- Từ ngữ nào thể hiện rõ nhất nghĩa tình thái trong các dòng thơ sau:

                  “Trăm năm trong cõi người ta

            Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.

A. khéo là                   B. Trăm năm               C. cõi người ta                        D. Chữ tài chữ mệnh

 

12-  Dòng nào sau đây nêu đúng đặc trưng của văn hình tượng (thơ truyện kịch)?

A- Là sản phẩm của tư duy nghệ thuật sáng tạo ra những hình tượng sinh động đẹp đẽ trước hết để chuyển tải tình cảm cảm xúc thẩm mĩ.

A- Là sản phẩm của tư duy nghệ thuật tác động trước hết đến nhận thức lí trí của người đọc bằng sự lập luận chặt chẽ lí lẽ sắc bén luận cứ xác đáng.

C- Là sản phẩm của tư duy lôgíc tác động trước hết đến nhận thức lí trí của người đọc bằng sự lập luận chặt chẽ lí lẽ sắc bén luận cứ xác đáng.

D- Là sản phẩm của tư duy lôgíc sáng tạo ra những hình tượng sinh động đẹp đẽ trước hết để chuyển tải tình cảm cảm xúc thẩm mĩ.

 

PHẦN II:TỰ LUẬN  (7điểm )

 

Từ cách nhìn cảnh vật phân tích tâm  trạng của Huy Cận trong bài thơ Tràng giang.

 

                    ---------------------------------------  HẾT  …………………………………………..

 

SỞ GIÁO DỤC –ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH

TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU                                        ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN KHỐI 11

                                                                                          HỌC KÌ II -Năm học 2010-2011

( Gồm có 3 trang)

                                   

I.MỤC TIÊU:

1) Kiến thức:

- Phần trắc nghiệm: kiểm tra  kiến thức về tiếng Việt Làm văn Đọc văn  chương trình Ngữ văn  11 – kì II.

 - Củng  cố và nâng cao trình độ làm văn nghị luận về các mặt: xác định đề lập dàn ý diễn đạt…Vận dụng  kiến thức phần văn học Việt Nam trọng tâm là tác phẩm Tràng giang của Huy Cận để  viết  bài văn nghị luận văn học.

 2) Kỹ năng:  Biết vận dụng kiến thức văn học và các thao tác lập luận  để viết một bài văn nghị luận văn học có sức thuyết phục. 

3) Thái độ: Gắn lí thuyết với thực hành làm bài thi nghiêm túc.

 

II.HÌNH THỨC ĐỀ:  trắc nghiệm và tự luận

 

III. THIẾT LẬP MA TRẬN

 

Cấp độ

Tên

Chủ đề

 

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

 

Cộng

Cấp độ thấp

Cấp độ cao

 

TRẮC NGHIỆM Tiếng Việt

 

 

 

-Nghĩa tình thái của câu:

 

 

 

Tổng số câu 2

Số điểm 0 5

 

Số câu: 2

Số điểm: 0 5

 

 

0 5

TRẮC NGHIỆM

 

Đọc văn

-Một thời đại trong thơ ca

-Về luân lí xã hội ở nước ta

- Văn hình tượng

-Ba cống hiến vĩ đại của Các- Mác

-Tác giả Xuân Diệu

-Chiều tối

 

 

 

Tổng số câu 7

Số điểm 1.75

Số câu 4

Số điểm 1 0

 

Số câu 3

Số điểm 0 75

 

 

1 75

TRẮC NGHIỆM Làm văn

-Thao tác bác bỏ

-Tiểu sử tóm tắt

-Thao tác lập luận bình luận

 

 

 

Tổng số câu 3

Sốđiểm 0 75

Số câu 2

Số điểm 0 5

 

Số câu 1

Số điểm 0 25

 

 

0 75

PHẦN TỰ LUẬN

 

 

+Mở bài:

Giới thiệu tác phẩm tác giả vấn đề nghị luận

+Thân bài:

a/Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên sông nước tràng giang.

b/Tâm trạng chính của tác giả

+ Kết bài :  Tóm lại những nét chính về cảnh vật và tâm trạng.

+Thân bài

c/Nguyên nhân của nỗi buồn.

- Vẻ đẹp nghệ thuật của bài thơ

+ Kĩ năng:

Bài làm có kết cấu chặt chẽ bố cục rõ ràng giữa các ý các phần có chuyển ý.

-Chọn dẫn chứng chính xác. Viết có cảm xúc.

 

 

 

 

5 điểm

2 điểm

7 điểm

Tổng số câu

Tổng số điểm

Số câu 6

Số điểm: 1.5

Số câu 6

Số điểm: 1.5

                          Số câu 1

Số điểm 7

10 điểm

Tỉ lệ %

15 %

15%

70%

100%

IV RA ĐỀ

 

 

 

V. XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN ĐÁP ÁN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

PHẦN I:  (TRẮC NGHIỆM) 3điểm

 

MÃ ĐỀ: 135.

 

CÂU

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Đáp án

C

A

B

D

D

B

C

B

C

D

A

A

 

 

PHẦN II: (TỰ LUẬN) 7điểm

1/ Yêu cầu về kĩ năng:

            Thí sinh hiểu đúng yêu cầu của đề bài phải biết cách phân tích  một bài thơ trữ tình biết làm bài nghị luận văn học. Bài làm có  kết cấu chặt chẽ bố cục rõ ràng diễn đạt tốt. Không mắc lỗi chính tả lỗi dùng từ lỗi ngữ pháp chữ viết cẩn thận.

2/ Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh cần nắm những  kiến thức chung về tác phẩm Tràng giang của Huy Cận  (hoàn cảnh ra đời những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật ..). Giới hạn của đề bài là phải từ cảnh vật mà phân tích tâm  trạng của Huy Cận không phải phân tích cả bài thơ.  Bài làm có thể trình bày nhiều hướng khác nhau miễn là nêu được các ý chính sau.         

a/Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên sông nước tràng giang được kết hợp giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại (cần lựa chọn những chi tiết hình ảnh tiêu biểu để phân tích cảm nhận tâm trạng của tác giả.)

b/Tâm trạng chính của tác giả:

            +Nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn

            + Niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời

            + Lòng yêu quê hương đất nước tha thiết của tác giả

 c/Nguyên nhân của nỗi buồn:

            + Nỗi buồn của một người dân  mất nước mất tự do.

            + Nỗi buồn thời đại của một thế hệ thanh niên trí thức không tìm thấy hướng đi trong hoàn cảnh xã hội (1930-1945). So sánh với các nhà thơ khác .

 

Chuẩn cho điểm bài văn

Điểm 7 -6: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên cảm nhận sâu sắc phong phú và chính xác văn viết có cảm xúc. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.

Điểm 5- 4: Hiểu được yêu cầu cơ bản của đề bài. Tỏ ra nắm được nội dung chính của đề. Hành văn chưa     trôi chảy nhưng diễn đạt được ý có mắc vài lỗi chính tả dùng từ .

Điểm 1-2 : Chưa hiểu đề chưa nắm được tác phẩm phân tích quá sơ sài. Diễn đạt quá kém chữ viết cẩu thả.

Điểm 0: Không viết được gì cả.

 

…………………………………………. Hết  …………………………………………….

 

More...

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II- LỚP 10 Năm học 2010-2011

By Đinh Hà Triều

Sở GD & ĐT Bình Định                                       ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II- Năm học 2010-2011

Trường THPT....................                                  MÔN NGỮ VĂN- Lớp 10 - Ban cơ bản

 

 

SỐ BÁO DANH:…………………

 

 

                                                   Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)

 

 

 

MÃ ĐỀ: 144

PHẦN I- TRẮC NGHIỆM (3 điểm):

 

Ô TRẢ LỜI TRẮC NGHIỆM

Câu

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Đáp án

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1. Theo anh (chị) việc đốt đền của nhân vật Ngô Tử Văn thể hiện điều gì?

A. Thể hiện quan điểm và thái độ của người trí thức muốn đả phá sự sùng tín của quần chúng bình dân.

B. Thể hiện sự khảng khái chính trực và  dũng cảm vì dân trừ hại.

C. Thể hiện tính hiếu thắng muốn làm chuyện khác người để nổi tiếng.

D. Thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ qua việc diệt trừ hồn tên giặc xâm lược hung bạo bảo vệ Thổ Thần nước Việt người từng có công giúp Lý Nam Đế chống ngoại xâm.

2- Văn học viết Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX (văn học trung đại) được chia làm:

A- 2 giai đoạn            B- 3 giai đoạn                C- 4 giai đoạn                                 D- 5 giai đoạn

3- Các tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du là:

A- Thượng kinh kí sự; Vũ trung tùy bút; Thanh Hiên thi tập

B- Truyền kì mạn lục; Bạch Vân am thi tập; Nam trung tạp ngâm

C- Thanh Hiên thi tập; Nam trung tạp ngâm; Bắc hành tạp lục

D- Nam trung tạp ngâm; Bắc hành tạp lục; Đoạn trường tân thanh

4- Dòng nào sau đây sắp xếp các đoạn trích theo đúng thứ tự trước sau trong văn bản Truyện Kiều

A- Trao duyên; Nỗi thương mình; Thề nguyền Chí khí anh hùng

B- Trao duyên ; Thề nguyền;  Nỗi thương mình   Chí khí anh hùng  

C- Thề nguyền            ; Trao duyên;  Nỗi thương mình;  Chí khí anh hùng

D- Cả a b c đều sai

5. Dòng nào dưới đây không phải là biểu hiện của cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam?

A. Ý thức độc lập tự chủ tự cường tự hào dân tộc; tự hào trước truyền thống lịch sử.

B. Tình yêu thiên nhiên đất nước; Lòng căm thù giặc tinh thần quyết chiến quyết thắng.

C. Tự hào trước chiến công thời đại; biết ơn ca ngợi những người đã hi sinh vì đất nước.

D. Cảm thông với nỗi khổ của con người đặc biệt là những người nhỏ bé bất hạnh.

6. Điền từ thích hợp vào chỗ trống : “Vào nửa đầu thế kỉ XVII một số giáo sĩ phương Tây đã dựa vào ……………..  xây dựng nên  một thứ chữ mới để ghi âm tiếng Việt”.  

A.Tiếng Pháp                              B. Tiếng Anh          C. Tiếng Bồ Đào Nha           D. Bộ chữ cái La tinh

7.“Hai vị thánh quân” được nói trong bài “Phú sông Bạch Đằng” là :

A. Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông.                  B. Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông

C. Trần Thánh Tông và Trần Quốc Tuấn                   D. Ngô Quyền và Trần Nhân Tông

8- Chọn câu viết sai :

A. Trong tác phẩm Truyện Kiều Nguyễn Du đã mô tả sâu sắc xã hội phong kiến thối nát.
B. Trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du đã mô tả sâu sắc xã hội phong kiến thối nát.
C- Tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du đã mô tả sâu sắc xã hội phong kiến thối nát.

D- Nguyễn Du qua tác phẩm Truyện Kiều đã mô tả sâu sắc xã hội phong kiến thối nát

9- Điều cấm kị khi tạo một văn bản thuyết minh là :

A- Phỏng đoán hư cấu khoa trương                         B- Chưa chú ý nhiều về tính chuẩn xác về tri thức

C- Chưa chú ý nhiều về tính mạch lạc                       D- Chưa gây được sự hấp dẫn của văn bản

10- Dạng đề văn nào sau đây đòi hỏi vận dụng phương pháp thuyết minh ?

A- Cảm nhận về bài thơ “Tỏ lòng” (Phạm Ngũ Lão)                        B- Vẻ đẹp một bài ca dao

C- Bình luận câu tục ngữ « Có học phải có hạnh »               D- Giới thiệu về Truyện Kiều

11- Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là :

A- Tính hình tượng tính đa nghĩa tính hàm súc      B- Tính hình tượng tính truyền cảm tính cá thể hoá

C- Tính hình tượng tính truyền cảm tính cá thể      D- Tính hình tượng tính đa nghĩa tính truyền cảm

12-“/…/ là chia vấn đề cần bàn luận ra thành các bộ phận để có thể xem xét một cách cặn kẽ và kĩ càng”

A- Phân tích                            B- Tổng hợp               C- Diễn dịch                           D- Quy nạp                 

 

PHẦN II:TỰ LUẬN: (7 điểm)

                          Cảm nhận của anh (chị ) về tâm trạng nhân vật Thúy Kiều qua đoạn thơ sau:

                                                    “Cậy em em có chịu lời

                                                Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

                                                         Giữa đường đứt gánh tương tư

                                               Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

                                                         Kể từ khi gặp chàng Kim

                                               Khi  ngày quạt ước khi đêm chén thề

                                                        Sự đâu sóng gió bất kì

                                               Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

                                                       Ngày xuân em hãy còn dài

                                               Xót tình máu mủ thay lời  nước non.

                                                       Chị dù thịt nát xương mòn

                                               Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

                                                       Chiếc vành với bức tờ mây

                                              Duyên này thì giữ vật này của chung.

                                                       Dù em nên vợ nên chồng

                                               Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

                                                      Mất người còn chút của tin

                                               Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”

                                              […]

                                                                                        ( “ Trao duyên” Truyện Kiều- Nguyễn Du)

 

                           ------------------------------------    HẾT  -----------------------------------

 

SỞ GIÁO DỤC –ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH

TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU                                        ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN KHỐI 10

                                                                                          HỌC KÌ II -Năm học 2010-2011

(Gồm 3 trang)

MA TRẬN + ĐÁP ÁN

I- MA TRẬN ĐỀ

 

       Mức độ   

 

 Chủ đề

Nhận biết

 

Thông hiểu

̣n dụng

Cộng

TN

TN

TL

1. Tiếng Việt:

-Lịch  sử phát triển của tiếng Việt; ngữ pháp; phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

- Chữ quốc ngữ

- Đặc trưng PCNNNT

- Nhân diện câu đúng/sai

 

 

 

Số câu

Số diểm

   3 = 0 75 đ

 

 

0 75 điểm

2 .Đọc văn:

- Khái quát văn học TĐ

 

 

- Phú sông BĐ

 

-Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên

- Nguyễn Du và Truyện Kiều

 

 

- 4 giai đoạn VHTĐ (1câu)

- Nội dung yêu nước (1 câu)

- Phú sông BĐ (1câu)

- Ý nghĩa việc làm của Ngô Tử Văn (1 câu)

- Thơ chữ Hán ND (1 câu)

- Trích đoạn TK (1 câu)

 

 

 

 

Số câu - Số diểm

 

 

  6 câu = 1 5 điểm

 

 

1 5 điểm

3. Làm văn:

- Văn thuyết minh

 

- Thao tác nghị luận

- Nghị luận văn học

 

- Dạng đề văn thuyết minh

-Thao tác nghị luận

 

 

- Yêu cầu đối với VBTM

 

 

 

 

 

 

- Viết bài văn NLVH phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình nghệ thuật thể hiện nội tâm nhân vật

 

 

Số câu - Số diểm

2 câu = 0 5 đ

 

1 = 0 25 đ

 

1 câu = 7 0 điểm

7 75 điểm

Tổng cộng

 

11 câu

 = 2 75 điểm

1 câu

 = 0 25 điểm

1 câu

 = 7 điểm

10 điểm

Tỉ lệ 

27 5%

2 5%

70%

100%

 

 

II- ĐÁP ÁN

I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (3 điểm): Mỗi câu đúng được 0 25 điểm.

MÃ ĐỀ: 144

Câu

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

ĐA

B

C

C

C

D

D

A

B

A

D

B

A

 

II. PHẦN TỰ LUẬN (7 điểm):

1. Yêu cầu:

a) Về kĩ năng:

 Biết cách nêu cảm nhận về một nhân vật văn học trong truyện thơ.

 Văn viết có cảm xúc bố cục chặt chẽ lôgic ít mắc lỗi diễn đạt

b)Về nội dung:

         Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo một số ý chính :

        Mở bài: Đời Kiều là một tấm gương oan khổ. Số phận Kiều hội đủ những bi kịch của người phụ nữ. Và một trong những bi kịch lớn ấy là bi kịch tình yêu tan vỡ thể hiện rõ nhất trong đoạn trích “ Trao duyên”.

        Thân bài: ( Có thể nêu cảm nhận ở các khía cạnh như sau)

  + Kiều nhờ cậy Thúy Vân nhận lời nối duyên với Kim Trọng. Kiều đã rất tinh tế khi dùng từ “ cậy” “ chịu” “lạy- thưa” để  ràng buộc Vân. Cách thỉnh cầu vừa lạ lùng vừa hợp lí ấy  giúp người đọc nhận ra một nàng Kiều tinh tế sâu sắc. Kiều ý thức được gánh nặng sắp trao cho em và  thấu hiểu  tình thế khó xử của Vân

+Kiều nhắc nhở mối tình của mình với chàng Kim ( chú ý  biện pháp điệp từ ‘khi”: khi gặp khi ngày khi đêm nói lên sự thề ước sâu nặng của Kiều và Kim Trọng)  và Kiều đã đưa ra lí lẽ để thuyết phục em ( Kiều đã lay động ở Vân tình cảm chị em ruột thịt Kiều còn dùng cái chết của mình để nói lên sự toại nguyện nếu Vân nhận lời- Lời thỉnh cầu của Kiều vừa chân thành vừa ràng buộc thiết tha)

+Tâm trạng của Kiều khi trao những kỉ vật tình yêu: Kiều như sống lại những kỉ niệm cũ- kỉ niệm của những ngày hạnh phúc rực rỡ trong  quá khứ để rồi giật mình đau khổ khi phải chia li với những hạnh phúc ấy. Đặc biệt khi trao kỉ vật cho Vân Kiều vẫn còn lưu luyến: nửa trao nửa níu giằng xé trong tâm hồn Kiều ( Lí trí tỉnh táo quyết định trao duyên cho em  nhưng Kiều vẫn muốn giữ lại một chút cho riêng mình vẫn muốn hiện diện trong tình yêu của Kim Trọng)

+ Cảm nhận được nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích ( nghệ thuật miêu tả quá trình trao duyên: Ở đây Nguyễn Du miêu tả quá trình trao duyên như một quá trình tự ý thức về bi kịch tình yêu tan vỡ của mình. Kiều tâm sự với Vân nhưng thực ra là tự bộc lộ phơi bày tâm tư tình cảm và khát vọng sâu kín của mình. Kiều đã tỉnh táo khi cầu khẩn em nhận lời   nhưng rồi sau đó Kiều lại để con tim mình lên tiếng khi trao kỉ vật.

 Kết bài: Khẩn khoản nài em nhận lời trao kỉ vật cho em lí trí Kiều bảo phải trao nhưng tình cảm thì muốn níu giữ vì trong lòng luôn khát khao hạnh phúc yêu đương: Tình yêu dù tan vỡ nhưng khát vọng về một tình yêu thủy chung son sắt không thể nào dứt đoạn

     

2. Biểu điểm:

Điểm 7-6 : Có tư duy cảm nhận riêng. Bố cục bài viết rõ ràng diễn đạt mạch lạc dẫn chứng chính xác không mắc lỗi chính tả.

Điểm 5- Bài viết có bố cục rõ ràng mạch lạc có cảm xúc nhưng chưa nhiều sai từ 1-3 lỗi chính tả diễn đạt.

Điểm 3- 4: Hiểu và đáp ứng được yêu cầu của đề bài nhưng khai thác ý chưa sâu sắc phân tích đôi chỗ sơ sài dẫn chứng chưa chính xác mắc trên 3 lỗi chính tả.

Điểm 1-2: Chưa nắm vững và chưa đáp ứng được 1/3 yêu cầu. Nhận thức nhiều chỗ sai lệch lạc đề sai  nhiều lỗi chính tả diễn đạt vụng về.

Điểm 0: Bỏ giấy trắng hoặc viết vài dòng lấy lệ./.

 

                 -------------------------------- HẾT ---------------------------------

 

More...

"Thưa cô tại sao lại có những chuyện như vậy?" -TRÔNG NGƯỜI LẠI NGẪM ĐẾN TA

By Đinh Hà Triều

"Thưa cô tại sao lại có những chuyện như vậy?"-

-TRÔNG NGƯỜI LẠI NGẪM ĐẾN TA

 

Theo PHONGDIEP.NET: Xưa nay nhắc tới việc viết thư gửi thầy cô giáo của mình hầu như mỗi người trong chúng ta thường quan niệm đó là dịp bày tỏ tình nghĩa và lòng tri ân. Vậy mà lá thư dưới đây lại ít liên quan đến điều chúng ta quen nghĩ thậm chí với bạn đọc vẫn giữ thói quen cố hữu khi nghĩ về “đạo thày trò” sẽ dễ bị “sốc” sau khi đọc xong.

 

Giả dụ bạn là người nhận lá thư liệu bạn có trả lời liệu bạn có bớt chút thời gian đọc lại để ngẫm ngợi hay bạn sẽ nổi giận để viết bài giảng giải về đạo lý hoặc biện minh?

 

Mọi khả năng đều có thể xảy ra và hàng triệu triệu trẻ em và lớp lớp học sinh cũng đang cần bạn lên tiếng. Còn trong đôi lời gửi Tòa soạn báo Văn nghệ Thái Nguyên tác giả của lá thư lại coi đây là một đối thoại thế hệ là sự lên tiếng từ nỗi bức xúc. Bởi dường như lâu nay phía sau của công việc dạy và học môn Văn vẫn tồn tại nhiều sự thật thắt ngặt lương tri mà hệ lụy như không còn nằm trong phạm vi quan hệ thầy - trò vì có liên quan tới việc đào tạo con người.

.

 

 

"THƯA CÔ VÌ SAO LẠI CÓ NHỮNG CHUYỆN NHƯ VẬY?"

 

Phạm Thị Mẫn

 

  Ngày... tháng... năm...

  Cô kính yêu của em!

  Chắc cô sẽ ngạc nhiên khi nhận và đọc xong lá thư này. Em nói như thế phần vì chưa bao giờ em viết thư gửi cô phần vì những điều em viết ra có thể sẽ làm cô rơi nước mắt hoặc cô sẽ phẫn nộ vì tội bất kính của đứa học trò hỗn hào hoặc cô sẽ giận run người. Vâng dù thế nào em cũng xin chấp nhận và không vì thế mà em vơi hao sự kính trọng và lòng biết ơn đối với cô.

  Thưa cô em đã từng được sống trong những bài giảng văn của cô. Em đã thấy mỗi khi nói về nỗi đau của con người cô đều nghẹn lời mắt rưng rưng lệ. Em đã thấy Con Người là một khái niệm chứa đựng trong đó bao điều lớn lao và đau khổ mà vì nó cô của em đã tận tụy sống tận tụy đem tình thương yêu tới lũ trò nhỏ và cũng từng nhận về mình bao hệ lụy. Em đã chứng kiến cô tự hào và vui sướng như thế nào khi có bạn trong lớp em là người thành đạt. Em cũng đã chứng kiến cô đau buồn ra sao khi một đứa trong chúng em sống chưa ra sống. Em thầm cảm ơn số phận đã cho em được gần cô được học cô và qua cô để tìm thấy những điều mà không phải môn học nào cũng có thể mang tới cho em như môn Văn.

 

  Đến hôm nay em vẫn còn nhớ hồi ấy để giảng bài bài: “Phong cách Hành chính” cô chuẩn bị tỉ mỉ đủ các loại giấy tờ văn bản để làm cho giờ học sinh động một giờ trả bài chất lượng. Rồi cô cân nhắc từng lời trước khi đặt bút ghi lời phê vào mỗi bài văn của chúng em. Giờ trả bài của cô bao giờ cũng giàu kịch tính và học sinh thì rất nhớ lỗi để rút kinh nghiệm cho lần sau. Trong một số bài học ứng dụng chúng em được thảo luận nêu ý kiến diễn kịch... Có khi tranh cãi như mổ bò có khi thẹn thò vì không dám diễn đoạn Pênêlôp quàng tay ôm lấy cổ chồng. Ôi cái tuổi học trò vụng dại!... Cứ như vậy cả cô và trò đã ngất ngưởng cùng Nguyễn Công Trứ chiến đấu rồi hi sinh cùng người nghĩa sĩ Cần Giuộc khóc Dương Khuê cùng Nguyễn Khuyến thương bà Tú cùng Trần Tế Xương...

 

  Nhưng cô ơi ở đời nhiều khi không biết thế nào là hay. Nếu như được ở bên cô là một niềm hạnh phúc và học môn Văn cô dạy em đã giúp em thi đậu Đại học với điểm số cao thì những ngày học môn Văn cũng là thời gian em phải chứng kiến nhiều việc mà lẽ ra ở tuổi học trò chúng em chưa nên biết. Em đã suy nghĩ rất nhiều và thấy rằng mình không thể im lặng lâu hơn được nữa. Em không muốn giả tạo với chính mình vì em hi vọng sẽ được một chút gì cho môn Văn yêu quí của chúng ta. Có thể cô sẽ trách em “Tại sao không nói ra sớm hơn?” nhưng em tin cô sẽ không đặt ra câu hỏi đó mà chia sẻ với em. Bởi trước đây em chỉ là một đứa học trò và không biết điều gì sẽ đến với em nếu những điều em viết dưới đây được công bố ngay khi em còn ngồi trên ghế nhà trường?

 

  Thưa cô em phải nói thực là dù vẫn biết cô là một giáo viên giỏi nhưng không rõ tại sao với nhiều bạn trong lớp em giờ Văn thường là giờ buồn ngủ. Buồn ngủ lắm cô ạ dù thương cô nhưng cơn buồn ngủ của tuổi mới lớn khiến chúng em không sao cưỡng lại được. Cô cũng biết và có lần cô đã lại gần bạn Nam dùng văn chương lay thật khẽ: “Tỉnh lại em ơi qua rồi cơn ác mộng!” làm cả lớp cười ồ. Riêng bạn Nam thì mắt đỏ quạch ngẩng lên ngơ ngác nhìn xung quanh rồi lại gục xuống. Với thầy cô khác có thể bạn ấy đã bị quát: “Dạy ra ngoài lấy nước rửa mặt!”. Nhưng có lẽ vì nghĩ đêm trước bạn Nam mất ngủ do phải học nhiều nhà bạn Nam ở xa phải dạy sớm ... nên cô chỉ nhẹ nhàng nhắc: “Thôi để cho bạn ấy ngủ thêm lát nữa lời cô nói như lời ru của mẹ đưa bạn ấy vào giấc ngủ êm đềm” và cả lớp lại cười. Lúc ấy em biết cô đã thỏa hiệp.

 

  Cô ạ một trong các lý do để chúng em buồn ngủ trong giờ Văn là do phải học quá nhiều. Mười ba môn học chính khóa cùng với các chương trình Hướng nghiệp Quân sự Phụ đạo học nghề luyện thi Tốt nghiệp luyện thi Học sinh giỏi... khiến thời gian biểu của chúng em chật cứng. Tính ra phải tới 19 môn đấy cô ạ. Đó là chưa kể để đạt được ước mơ vào Đại học thì lịch học thêm còn dày đặc hơn nữa khiến chúng em “không còn thở được”. Nghĩa là với học sinh lớp 12 ngày “chạy sô ba ca” là chuyện thường tình. Mà môn nào thầy cô cũng yêu cầu: “Phải học! Phải học!”. Yêu môn Văn và kính trọng cô nhưng nay nghĩ lại em thấy áp lực như vậy mà cái đầu bé nhỏ của chúng em không “nổ tung” thì mới là chuyện lạ! Chúng em đã phải học như “cái máy” học như để “nhồi nhét” vào đầu thì còn đâu thời gian cảm thụ nghiền ngẫm tác phẩm văn học? Còn vì tình yêu văn chương nếu chúng em cất lên tiếng nói thật suy nghĩ thật của bản thân trong cảm thụ tác phẩm thì có khi sẽ tự làm khổ mình. Bởi chắc chắn tiếng nói thật suy nghĩ thật đó không trùng khớp với những bài văn mẫu với những “ba rem” mà thầy cô đã chuẩn bị sẵn. Và hình như đôi lúc thầy cô đã quên điều từng truyền dạy chúng em rằng: “Văn chương phải khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có...”.

 

  Em nhớ cô đã dạy thật hay trích đoạn Thề nguyền ngợi ca một cô Kiều dám “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đến tự tình với Kim Trọng và họ đã ở bên nhau cho đến sáng. Khi cô nói đến đó có bạn đã thì thầm: “Thế mà không có con!”. Em thì lại nghĩ dù ở thời nào cũng không có cha mẹ nào đồng ý cho con gái mình chủ động đến nhà bạn trai như vậy. Rồi khi trong giờ Văn thầy cô dạy chúng em về đức hi sinh của người đàn bà miền biển. Chị ấy biết chấp nhận đớn đau từ những trận đòn dữ dội của người chồng chỉ để nhìn thấy đàn con được ăn no. Thày cô còn bênh vực lão đàn ông vũ phu rằng anh ta chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh. Vì đói khổ không lối thoát nên ngày nào anh ta cũng lôi vợ mình ra đánh. Sao lại có thể oan ức như vậy? Giờ là thế kỉ nào rồi? Giải phóng phụ nữ ở đâu? Quyền con người ở đâu? Rồi trong bài giảng Về luân lý xã hội... cô khen ngợi cách đặt vấn đề trực diện bộc lộ quan niệm tư tưởng của một nhà Nho uyên bác sắc sảo thức thời: “xã hội luân lí trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến”. Và cô đưa ra một loạt dẫn chứng: “dân ta quen phải ai tai nấy ai chết mặc ai cháy nhà hàng xóm bình chân như vại đèn nhà ai nhà nấy rạng chỉ nghĩ đến sự yên ổn của riêng mình bất công cũng cho qua”. Em ngồi nghe và nghĩ nói như thế e có vơ đũa cả nắm hay không? Dù chỉ là một học sinh lớp 12 nhưng qua tìm hiểu em đã lờ mờ nhận thấy chúng ta đã đi từ cực đoan này đến cực đoan khác. Chương trình cũ hầu như chỉ một “tông” ca ngợi chương trình mới lại yêu cầu chúng em tiếp cận một loạt vấn đề gai góc. Chúng em không dám cãi vì cô nói rất say sưa nhưng ngồi dưới nghe thì chúng em chưa phục. Vâng thưa cô còn bao điều nhức nhối mà em muốn gửi đến cô và không biết trang giấy này có nói hết.

 

  Lên đến lớp 12 chúng em không còn thời gian để mê mải cùng Đam-san đi bắt “Nữ thần Mặt trời” hay cùng Chí Phèo “say” bên Thị Nở... Và chúng em liên tục phải nghe để chép nhìn máy chiếu và chép. Cô ngồi ghế đung đưa chân và đọc những con chữ từ một thế giới vô hình xa xăm nào đó. Còn chúng em thì chép lia lịa chép mà nhiều khi chẳng biết mình đang chép cái gì? Chép để khỏi bị cô phạt chép để yên tâm khi thi cử có cái để ôn nếu thuận tiện thì có cái để mà... “quay”! Lúc có người “dự giờ” cô vẫn bày biện đủ mọi thứ nhưng khi chỉ còn có cô trò mình cô lại tiếp tục... đọc và chúng em chép. Đơn giản là nếu cô không đọc cho chép thì chúng em không thể làm được bài. Và thế là điều thầy cô dạy: “các em phải là những ngọn đèn tự sáng lối học nhồi nhét nặng về đổ đầy kiến thức đã cũ kĩ lắm rồi” trở thành một sáo ngữ hơn là lời răn dạy có ý nghĩa thực hành. Một vài bạn không thích đi theo lối mòn suy nghĩ và diễn đạt phá cách thì nhận được lời phê: “Bài của em thể hiện tư duy độc lập nhưng cần chú ý kiến thức cơ bản để đảm bảo yêu cầu thi cử”. Thế đấy cô ạ phải viết như khuôn mẫu mới dễ “ăn điểm”. Vì đáp án dài đến 3 4 trang qui định chi li kiến thức cần có phần ghi chú bao giờ cũng nói rõ: “Học sinh có thể trình bày theo ý riêng”. Nhưng cái “ý riêng” liệu có ý nghĩa gì trước các bài văn mẫu? 

 

  Có lúc vô tình cô từng kể về một bài thi làm đầy đủ cả ba câu chỉ được 2 điểm và cô nói đùa: “Chắc vị giám khảo này say rượu!”. Sau này phúc tra lại bài ấy lại được 7 điểm như thế là chênh lệch đến 5 điểm phải không cô? Trong khi chỉ thiếu nửa điểm đã đủ “chết” chúng em rồi. Về sau em còn biết nhiều chuyện “độc đáo” khác nữa như hai cô ở cùng tổ chuyên môn của một trường lớn mà chấm bài thi Đại học chênh lệch đến 6 điểm người chấm 3 người chấm 9 (!); thày P.T.L còn nêu rõ địa chỉ bài một bạn bị 3 điểm khi chấm vòng thứ nhất sau chấm chung được 10. Rồi sau đó bạn đã được đi học nước ngoài.

  Thưa cô vì sao lại có những sai lệch như vậy?

 

 

 Cô kính mến!

 

... Vì những sự lộn xộn đó nên thày cô phải dồn hết tâm lực cho việc dạy để chúng em... thi chứ không phải dạy để học! Chỉ cần lật trang cuối sách giáo khoa là chúng em thấy rõ các tác phẩm thuộc nội dung thi được ôn rất kĩ còn những bài không trong giới hạn ôn thi thì: “Các em ghi đầu đề thôi chúng ta tập trung vào những bài quan trọng!”. Lúc ấy chúng em thấy cô thật tâm lý vì đa số các bạn thi khối A B nên phải “ưu tiên” thời gian cho các môn tự nhiên. Ban Khoa học Xã hội của mình gần như bị triệt tiêu rồi! Nhưng em thì thấy đau lòng lắm cô ạ vì em tiếc cho môn Văn tiếc cho từng khắc từng giờ trôi đi oan uổng. Những môn không phải thi tốt nghiệp thì cô trò được ngồi “tâm sự”. Rồi ở “lớp chọn” các thày cô phải đầu tư cho đội tuyển ở lớp thường chỉ có các bạn yếu được quan tâm. Thày cô chà xát thật kĩ những “phần tử” có khả năng làm trường hụt chỉ tiêu làm thày cô mất thành tích. Các bạn còn lại hầu như được “thả” (!).

 

  Thưa cô cuộc vận động “Nói không với tiêu cực” liệu có trở thành một khẩu hiệu trống rỗng hay không khi đã và đang có quá nhiều điều hoàn toàn không hay chút nào vây lấy chúng em từ học hành đến thi cử từ tiếp thu kiến thức đến sử dụng kiến thức? Trường học lẽ ra phải là nơi chúng em được học những điều tốt đẹp nhất thì tại đây sự giả dối vẫn ngang nhiên diễn ra không biết bao giờ mới chấm dứt?

 

   Giờ học ầm ầm như cái chợ vẫn được điểm 10 vì thày cô nể nhau. Một số thày cô thực tập lên lớp còn lúng ta lúng túng thậm chí dạy sai cả kiến thức nhưng nghe thày Hiệu trưởng công bố kết quả xếp loại thì vẫn thấy những thầy cô ấy đạt loại xuất sắc! Hàng ngày thày cô xa xả mắng học trò dốt nát nhưng cuối năm vẫn cứ 70% học lực khá giỏi 90% hạnh kiểm tốt tốt nghiệp vẫn 100%. Buổi lễ trọng nào chúng em cũng phải ngồi giữa trời nắng đến cả tiếng đồng hồ để chờ đại biểu. Chờ họ đến và lên diễn đàn nói những điều ít ai muốn nghe vậy mà chúng em vẫn phải liên tục vỗ tay để thể hiện lòng hiếu khách! Thày cô luôn dạy chúng em phải trung thực nhưng trước khi thi tốt nghiệp thày cô lại dặn phải gây thiện cảm với giám thị nếu là bạn trường mình thì phải “giúp đỡ” nhưng với trường ngoài thì tuyệt đối không để cho “người ta” nhìn bài. Tại sao lại thế hả cô? Và em lại phải xin lỗi cô khi nhắc lại điều em được nghe kể rằng khi đi thi thày cô cũng “quay cóp” làm y như những việc mà thày cô đã phê phán. Ngày nào đài báo rầm rộ chuyện thày Khoa ở Hà Tây được coi là “anh hùng chống tiêu cực” nhưng đến giờ thì thày còn tiêu cực hơn cả những người thày đã chống! Thế mà thày cô từng dạy em: “Điều gì mình không muốn làm cho mình thì đừng làm cho người khác!”.

   Sau ba năm học và thi thoảng trở lại trường em thấy càng ngày trường mình càng được xây dựng đàng hoàng to đẹp. Nhưng em thấy đắng lòng khi cảm nhận được mỗi viên đá lát mỗi vườn cây đều thấm đầy mồ hôi nước mắt. Năm nào phụ huynh cũng phải nộp thêm bao nhiêu khoản nào là chăm sóc vườn hoa cây cảnh làm sân thể thao xây hàng rào bảo vệ quét vôi ve lớp học mua quạt trần. Cuối khóa thì “ủng hộ” Hội đồng thi...Chưa nói ở trường nọ trường kia số tiền quĩ cho một năm hoạt động của cha mẹ và học sinh lên đến mấy trăm triệu. Đóng góp của phụ huynh thì nhiều thế mà thật lạ lùng - em nói điều này mong cô đừng cho là em quá chi tiết - đến một cái nhà vệ sinh sạch sẽ một chút cho tụi học trò chúng em nhà trường cũng không có nổi. Để đến nỗi cái việc cực chẳng đã là phải đi vệ sinh ở các khu WC không thể bẩn thỉu hơn đã luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng của biết bao nhiêu thế hệ học trò. Điều đáng buồn là chuyện "Wiliam Cường"này báo chí kêu hộ chúng em nhiều lắm nhưng các thầy cô dường như lại không mấy để tâm xem như chuyện vặt. Tại sao lại như vậy hả cô? 

 

  Chúng em không biết nhiều nhưng cô từng bảo rằng tiền phụ huynh “giúp đỡ” nhà trường nào có đáng kể gì. Ban Giám hiệu phải sấp ngửa đi “xin” các doanh nghiệp các nhà tài trợ. Và cũng vì thế nên năm nào lớp chọn cũng phải có vài suất “ngoại giao” dù điểm “đầu vào” của các bạn ấy còn thua xa điểm chuẩn. Nhập lớp rồi mấy bạn ấy được đi học mà không thèm học bỏ học và trốn học đi chơi điện tử như cơm bữa. Trong khi bao nhiêu bạn khát khao được đến trường chỉ vì điểm thi thấp mà đành rẽ cuộc đời sang ngả khác chấm dứt ước mơ học hành. Em còn nhớ trong buổi sinh hoạt lớp bạn Thành đề nghị chuyển toàn bộ số tiền mua quà mừng ngày 20-11 cho đồng bào miền Trung có bạn quát rất to: “Mày ngu thế!”. Bạn Thành bảo: “Em xem ti vi thấy người ta không có mì để ăn không có nhà để ở trường mình tổ chức 20-11 hoành tráng thế để làm gì?”. Cô lúng túng vài giây rồi từ tốn giải thích: “Việc nào ra việc ấy em ạ em muốn ủng hộ bao nhiêu cũng được còn đây là việc chung của trường mình không bỏ được”. Cô đã tìm ra “chìa khóa” giải quyết vấn đề vừa thỏa mãn ý kiến của học trò vừa không làm hao hụt phần “quà 20-11” của các thày cô. Vâng cô đã không nổi giận mà áp chế chúng em nhưng nếu chúng ta đồng lòng bớt chi tiêu lãng phí đi thì đã có người nghèo được giúp đỡ cô ạ.

 

   Còn một việc nữa mà nói ra có thể cô sẽ coi là “phạm thượng” vì liên quan đến sinh hoạt của thày cô. Nhưng xin cô hãy nghe em nói một lần. Nhà trường quy định học sinh đến trường phải ăn mặc giản dị mặc áo sơ mi có cổ bẻ không sử dụng điện thoại di động không ăn quà bánh nhưng trong giờ lên lớp em vẫn thấy không ít thày cô nghe điện thoại mang túi to túi nhỏ để giờ ra chơi ăn uống tùm lum. Nhiều thày cô vừa ăn vừa cười nói rất to phản cảm lắm cô ạ. Có một hôm vào giờ Văn cô T. dạy thay ở lớp mình. Cô rất xinh nhưng mặc áo hơi trễ có lúc cô cúi thấp xuống...làm mấy bạn nam ngồi bàn đầu khoái chí còn các bạn gái thì xấu hổ thay cho cô! Kinh khủng nhất là chuyện thày X. dạy toán quên không kéo khóa quần mấy bạn trai bịt miệng không dám cười. Nhận ra “sự cố” thày thản nhiên thò tay kéo đánh “roạt!” trước mặt học sinh và nói chửi: “Mẹ bố chúng mày thấy bố quên thì chúng mày phải nhắc chứ?”! Thày thật “vui tính”!?

 

      Thày cô vẫn nói với chúng em về mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện nhưng nhiều khi thày cô lại không làm như thế. Nhiều bạn trong lớp mình không biết làm vệ sinh lớp học không cầm đến cái cuốc cái xẻng bao giờ...vì phụ huynh đã nộp tiền thuê lao động vệ sinh cả năm rồi. Trường tổ chức cắm trại nhưng không bạn nào biết làm cô lại chỉ đạo thuê tất từ thiết kế đến dựng trại nhổ trại “Để thời gian cô trò mình chơi cho sướng!”. Là giáo viên chủ nhiệm nhưng vì cô bận nên không có thời gian nghe hết tâm sự của chúng em. Cô có biết là ở lớp mình một số thày cô đã công khai gợi ý cho chúng em học thêm đến các lớp để phát tờ rơi quảng cáo? Giờ trên lớp thì thầy cô ấy dạy qua loa nếu chúng em không học thêm thì khó lòng thi đạt điểm cao được. Ban đầu một số bạn không đăng kí những lớp phụ đạo tại nhà như thế nhưng rồi khổ suốt cả năm. Thầy cô không nói gì nặng đâu ạ nhưng chỉ cần nhìn ánh mắt lạnh lùng nhận vài câu mát mẻ lỡ có lỗi thì bị chì chiết thế là đủ ức chế lắm rồi còn đâu tâm trí mà học? Ở lớp 10A6 bạn Tú gan lì nhất kiên quyết không theo lớp học thêm thì trong buổi học cuối kì I cô giáo chủ nhiệm đã đề nghị gặp riêng và không cần giấu giếm nữa: “Nếu em không theo được phong trào của lớp thì thôi gia đình nên cho em chuyển sang lớp khác!”. Bạn ấy ngồi khóc. Chúng em thương bạn lắm và bảo: Thôi cần gì đã thế thì chuyển đi! Nhưng rồi biết chuyển đi đâu hả cô? Lớp nào cũng thế thôi cùng một gầm trời này...rồi trường nào cũng vậy! Bạn Tú đành chấp nhận nộp tiền oan chỉ đến lớp ngồi cho cô điểm danh. Bạn không vào đầu thêm được chữ nào vì ở nhà đã có anh trai học ở trường chuyên dạy cho bạn rồi!

 

  Có thày cô còn “hướng dẫn” chúng em rằng: “Sau ba năm học dưới mái trường này các em như bầy chim đã đủ lông đủ cánh sắp bay xa chúng ta phải thể hiện niềm biết ơn với các thày cô biết ơn các bác bảo vệ lao công người phụ trách y tế học đường thày dạy quân sự cô dạy hướng nghiệp các thày cô trong Ban Giám hiệu...”. Thế là số tiền “biết ơn” đó tăng lên biết bao nhiêu lần để mua thêm mấy chục suất quà! Chưa kể lớp nào cũng phải có thêm một thứ gì đó “to to” nữa để “kỉ niệm” nhà trường. Các thày cô đi đâu cũng khoe: “Học sinh trường mình chu đáo hiếu nghĩa có trước có sau!”. Các cô chủ nhiệm thì mát mặt! Chỉ các bạn con nhà nghèo là phải cắn răng mà chịu đựng thôi cô ạ. Cô của em thì không phải là người tham em biết rõ như vậy. Nhưng dần dà em nhận thấy những phẩm chất tốt đẹp mà em đã từng cảm nhận ở cô cũng ngày một hao mòn. Em nhớ hồi đầu phát hiện thấy phong bì của phụ huynh khéo léo gài trong bó hoa cô đỏ mặt và tìm cách trả lại. Sau rồi tình trạng không thay đổi không thấy cô trả lại lần nào nữa. Đã có lúc em đau xót nghĩ đến đề văn mà cô đã ra cho lớp tập quán xấu ban đầu là khách qua đường sau nó ở chung nhà và trở thành chủ nhà khó tính. Cô còn kể về con Sói xin gửi một chân vào nhà Cừu sau đó thì gửi cả hai chân và nhảy luôn vào nhà ăn thịt lũ cừu bé bỏng. Cô có thấy là những bài học đó vô tình đã được “ứng dụng” vào cô rồi không?

 

  Em hết sức xin lỗi cô vì đã không giấu được suy nghĩ của mình. Nhưng cô hãy tin rằng trong trái tim bé nhỏ của em luôn có chỗ cho tình yêu thương thày cô. Thày cô cũng là con người cũng có gia đình cũng phải vất vả trong cuộc mưu sinh. Đa số thày cô là tốt không thiếu những người đã tận tụy làm việc hết mình vì sự tiến bộ của chúng em. Những lời chuyện trò tâm huyết những việc làm thấm đầy tình thương yêu và ý thức trách nhiệm mà nhiều thày cô dành cho chúng em làm sao chúng em có thể quên? Em xin khắc ghi tận đáy lòng những điều ân nghĩa. Dưới mái trường này rất nhiều thế hệ học trò chúng em đã lớn khôn và nhận về mình bao tình cảm tốt đẹp. Ngôi trường sẽ mãi phong kín trong em với những hoài niệm còn lặng im run rẩy. Trong đó có biết bao kỉ niệm đẹp của tuổi học trò hồn nhiên và vụng dại. Nhưng cũng còn một số điều chưa đẹp không chịu ngủ quên...như em đã kể lại trong thư...Lỗi là ở đâu? Không hẳn tại thày cô em lờ mờ cảm nhận như vậy.

 

Nhưng cô ơi sản phẩm giáo dục của cô thày không thể chỉ là những đứa con ngoan ngoãn biết vâng lời. Cuộc sống đang phát triển từng ngày cuộc sống đang đòi hỏi chúng em phải trau dồi tri thức một cách nghiêm túc biết suy nghĩ độc lập và biết sáng tạo đặc biệt là biết tự ý thức về mình để sống tốt hơn sống có ích hơn. Em chưa một lần dám nói “hỗn” với cô vì em không muốn làm cô buồn. Nhưng nếu không vượt qua mặc cảm để viết bức thư này thì em lại vô cùng day dứt. Từ nơi xa xôi em nhớ cô nhớ nhà buồn đến khóc. Em thấy mình có lỗi thật nhiều. Nhưng dù cô có mắng mỏ hay không coi là “học trò cũ” đi nữa em vẫn mãi mong muốn được là đứa con bé bỏng của cô là công dân có trách nhiệm của nước Việt. Cô sẽ không bao giờ phải ân hận vì đã sinh ra em lần thứ hai. Và em mong một ngày nào đó về thăm trường em sẽ được cô trìu mến nắm tay và bảo với em rằng: “Cô hiểu em. Cô chia sẻ với em. Cô sẽ cố gắng để những điều làm em phải dằn vặt sẽ không còn tồn tại trên đời này nữa!”.

 

                                                                              Mãi là trò nhỏ của thày cô.

                                                                                     Phạm Thị Mẫn

 

(Nguồn: Văn nghệ Thái Nguyên số 8/2011)

More...

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II - lớp 12 NĂM HỌC 2010 - 2011-TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU

By Đinh Hà Triều

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH                              

TRƯỜNG THPT XUÂN DIỆU                         ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II NĂM HỌC 2010 - 2011
                                                                   MÔN: NGỮ VĂN LỚP 12- Ban cơ bản
                                                                               ------------------------

                                                             
                                                      ĐỀ CHÍNH THỨC
                             Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian giao đề)

Câu 1 (2 điểm)
a- Đoạn trích truyện “Ông già và biển cả” (Hê-minh-uê) trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 kể lại sự việc gì ? Sự việc ấy diễn ra vào thời gian nào trong chuyến ra khơi của ông lão?

b- Qua sự việc ấy anh (chị) nhận thấy nhân vật Xan-ti-a-go là  người như thế nào ?

Câu 2 (1 điểm)

- Ngày Thanh minh năm sau người mẹ Hạ Du nhìn thấy có vòng hoa trên mộ con mình.

- Kết thúc chiến tranh A. Xô-cô-lốp nhận bé Va-ni-a làm con và hết lòng yêu thương chăm sóc nó.

- Sau 84 ngày đen đủi ông lão Xan-ti-a-go đã đánh bắt được con cá lớn nhất đời mình.

          Qua cả ba sự việc trên anh (chị) nhận ra nét chung nào trong ý tưởng của các tác giả. Hãy viết một đoạn văn (từ 3 đến 5 câu)  để nói lên điều cảm nhận đó.


Câu 3 (7 điểm):
            Khép lại tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu viết:
“Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng và nếu nhìn lâu hơn bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi bàn chân giậm trên mặt đất hòa lẫn trong đám đông …”
            Hãy phân tích ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng ở đoạn văn trên để thấy quan niệm của tác giả về nghệ thuật.

                                                              … … … .HẾT. … … …

 

 

 

 

MATRẬN ĐỀ

 

                             Mức độ KT-KN

 

 

Chủ đề

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng

Tổng

Đọc văn

Câu 1:

Sự việc thời gian trong đoạn trích truyện Ông già và biển cả của Hê-minh-uê và đặc điểm tính cách nhân vật Xan-ti-a-go

Câu 2-

Nét chung  trong ý tưởng của các tác giả:

Niềm tin vào tương lai một khi con người có ý chí nghị lực tài năng lòng nhân hậu và sự thức tỉnh.

 

 

1 câu= 2 0 đ

1 câu= 1 0 đ

 

3 0 đ

Làm văn: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm tự sự

 

 

Vận dụng những kiến thức về tác giả tác phẩm về đặc trưng thể loại kết hợp các thao tác NL và phương thức biểu đạt biết cách làm bài nghị luận văn học

 7 0

điểm

Tổng số

2 0 điểm

1 0 điểm

7 0 điểm

10 điểm

Tỉ lệ %

20%

10%

70%

100%

 

 

 

 

                                                   HƯỚNG DẪN CHẤM

 

I. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Đề bài gồm 3 câu : câu 1 câu 2 kiểm tra kiến thức văn học; câu 3 là bài nghị luận văn học.

Câu 1 câu 2 chủ yếu yêu cầu tái hiện thông hiểu kiến thức nhưng cũng đặt ra yêu cầu về diễn đạt. Những HS diễn đạt trôi chảy đúng chính tả ngữ pháp mới được điểm tối đa.

Câu 3 là bài làm văn vừa kiểm tra kiến thức văn học kĩ năng diễn đạt và kĩ năng lập luận của HS.
- Giám khảo cần nắm nội dung bài làm của HS để đánh giá tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng sáng tạo.
 Thí sinh có thể trình bày theo các cách riêng nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.

II- HƯỚNG DẪN CỤ THỂ:

 

Câu 1(2 0):

a- Sự việc: kể lại việc ông lão Xan-ti-a-gô giành chiến thắng cuối cùng trong cuộc đọ sức dai dẳng với con cá kiếm.(0 5đ). Sự việc này diễn ra vào buổi sáng ngày thứ 3 trong chuyễn ra khơi của ông lão (0 5đ).
b- Xan-ti-a-go là một ngư phủ lành nghề là người dũng cảm mưu trí kiên trì giàu ý chí nghị lực giàu khát vọng …(1 0)
(Lưu ý: Chấp nhận các cách đánh giá hợp lí khác về nhân vật. )

 

Câu 2 (1đ): HS viết được đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) để nêu được nét chung trong  ý tưởng của các tác giả: Niềm tin vào tương lai một khi con người có ý chí nghị lực tài năng lòng nhân hậu và sự thức tỉnh.

Câu 3 (7đ): Phân tích ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng ở đoạn văn cuối tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa để thấy quan niệm của tác giả Nguyễn Minh Châu về nghệ thuật.

a-     Yêu cầu chung về kĩ năng
- Nắm phương pháp làm bài nghị luận văn học.
- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (chứng minh bình luận so sánh mở rộng vấn đề… ). Đặc biệt thí sinh phải nắm vững thao tác phân tích một nhân vật trong tác phẩm tự sự và phân tích tác phẩm tự sự.
- Văn trôi chảy lập luận chặt chẽ dẫn chứng thuyết phục.
- Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả dùng từ; trình bày bài rõ ràng.
b. Yêu cầu về nội dung

Nội dung cần thể hiện

Điểm tối đa

1- Giới thiệu được vấn đề nghị luận: Ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng ở đoạn văn trên là sự thể hiện một cách hàm ẩn quan niệm của tác giả về nghệ thuật.

 

1 0

 

2

a- Ấn tượng lạ lùng chính là cái nhìn mang “sự ám ảnh sâu sắc” của người nghệ sĩ: Phùng nhìn bức ảnh qua sự ám ảnh đó chứ không nhìn bằng đôi mắt khách quan. Thế nên “mỗi lần ngắm kĩ” là anh đang sống lại với kỉ niệm về tất cả những điều đã xảy ra trong chuyến công tác đáng nhớ.

1 0 

b- Màn sương màu hồng tượng trưng cho nghệ thuật cho cảnh tuyệt đẹp kì thú của thiên nhiên là vẻ đẹp thơ mộng về thuyền và biển mà Phùng đã cất công tìm kiếm và đã thu được vào ống kính; cho niềm hân hoan khi anh phát hiện ra vẻ đẹp nên thơ nơi bờ biển (cảnh một chiếc thuyền ngoài xa trong làn sương sớm có pha đôi chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào mà “từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích” và anh có được cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn vì “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh”.

1 0 

c- Hình ảnh người đàn bà bước ra khỏi tấm ảnh chính là hiện thân của những lam lũ khốn khó đời thường là sự thật cuộc đời đằng sau bức tranh xuất phát từ sự day dứt khôn nguôi của tác giả về người đàn bà vùng biển lam lũ nhẫn nhục nhưng sáng ngời vẻ đẹp của tình mẫu tử của lòng vị tha độ lượng mà Phùng đã trực tiếp chứng kiến.

1 5 

d- Tác giả không trực tiếp phát ngôn cho quan niệm nghệ thuật của mình nhưng qua hệ thống nhân vật của tác phẩm đặc biệt là qua lời tự bạch cuối truyện (đoạn văn trích) đã thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật và cuộc đời: nghệ thuật chân chính phải luôn gắn với cuộc đời vì cuộc đời; người nghệ sĩ cần phải nhìn nhận nghiền ngẫm về cuộc sống và con người một cách toàn diện sâu sắc.

 

1 5 

3- Khái quát đánh giá những vấn đề đã bàn luận.

 1 0 

c/Biểu điểm:

Điểm 7 - 6: Bài viết đáp ứng các yêu cầu nêu trên cảm nhận sâu sắc dẫn chứng chọn lọc văn viết có cảm xúc   ít sai lỗi  chính tả dùng từ diễn đạt .

Điểm 5 - 4: Bài làm  cơ bản đảm bảo nội dung của một bài nghị luận đúng yêu cầu của đề bài dẫn chứng chọn lọc và chính xác lời văn có đôi chỗ còn lúng túng có mắc vài lỗi chính tả dùng từ…

Điểm 3: Bài viết trình bày chưa đầy đủ nhưng tỏ ra có hiểu đề mắc khoảng 5 6 lỗi về hành văn.

Điểm 2-1: Bài làm chưa hiểu đề chưa nắm chắc tác phẩm phân tích sơ sài câu chữ cẩu thả … .

Điểm 0 : Không viết được  gì.

………………………………….Hết…………………………….

More...

Kiểm tra học kỳ II ra đề học kỳ I

By Đinh Hà Triều

Kiểm tra học kỳ II ra đề học kỳ I

Nguồn NGƯỜI LAO ĐỘNG: Thứ Sáu 15/04/2011 20:12

(NLĐO)– Ngày 15-4 nhiều học sinh và giáo viên dạy văn lớp 12 ở Bình Dương phản ánh Sở GD-ĐT tỉnh này vừa ra một đề kiểm tra học kỳ gây bất ngờ.

Theo phản ánh trong đề kiểm tra học kỳ 2 môn văn của lớp 12 tổ chức ngày 14-4 có 3 câu nhưng không câu nào có liên quan đến chương trình học kỳ II mà chỉ liên quan đến các tác phẩm nằm trong chương trình học kỳ I như bài thơ Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm) Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)…. 
 
alt
Đề thi môn Văn học kỳ II của học sinh lớp 12 tỉnh Bình Dương
 
Nhiều giáo viên dạy văn lớp 12 cho biết dù trước đó họ đã được sở thông báo đề kiểm tra học kỳ II có thể có nội dung học kỳ I nhưng việc sở ra đề môn văn như trên khiến học sinh hoang mang dẫn đến làm bài không tốt. “Nội dung học kỳ I đã kiểm tra rồi giờ lại ra đề toàn nằm trong học phần cũ như vậy là không khoa học mất cân đối thiếu tính trọng tâm gây tâm lý bất lợi cho học sinh trước kỳ thi tốt nghiệp và đại học tới” - một giáo viên tổ trưởng môn văn ở Bình Dương đánh giá.
 
Tối 15-4 trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động ông Dương Thế Phương Giám đốc Sở GD-ĐT Bình Dương cho biết đề kiểm tra môn văn nằm trong chủ trương của sở là kiểm tra học kỳ II nhưng nội dung sẽ là chương trình học cả năm. Đây là năm đầu sở triển khai chủ trương này nhằm giúp học sinh tránh học tủ qua đó chuẩn bị tốt hơn cho thi tốt nghiệp và đại học tới. Riêng việc học sinh và giáo viên bức xúc là do hiệu trưởng giáo viên các trường không hướng dẫn triển khai tốt chủ trương trên (!).

Tin - ảnh: N.Phú
  • ........................................................................
  • SAU ĐÂY LÀ Ý KIẾN CỦA NGƯỜI ĐỌC BÁO
  • Du Le Thuy
    15/04/2011 21:35

    ..."kiểm tra học kỳ II nhưng nội dung sẽ là chương trình học cả năm" thế thì còn gọi kiểm tra học kỳ II làm gì nữa. Đã thế lại còn bao biện : chủ trương này nhằm giúp học sinh tránh học tủ qua đó chuẩn bị tốt hơn cho thi tốt nghiệp và đại học.

  • học sinh bình dương
    15/04/2011 21:47

    Thầy Phương nói vậy em không đồng ý! vậy cái tên "Kiểm tra học kỳ 2" chả nghĩa lý gì

  • Thu Huệ
    15/04/2011 21:49

    Đúng là miệng quan trôn trẻ. Nói thế thì đề nào cũng được.

  • ducthanh
    15/04/2011 22:25

    Tôi nghỉ Sở GD-ĐT Bình Dương nên thẳng thắng nhận sai sót còn hơn là chống chế như vậy! Chống chế nói rằng thi HK II theo kiến thức cả năm mà ra đề chỉ có HK I là sao?

  • nguyễn dũng
    15/04/2011 22:39

    Tôi đồng ý cách ra đề của Sở GD Bình Dương nếu theo cách nói của các thầy cô và HS lớp 12 thì kiến thức ở HKI không còn gì trong đầu HS sao như vậy thì nên xem lại cách dạy và học.

  • T.Phat
    15/04/2011 22:42

    Dối được mọi người nhưng không dối được bản thân.

  • Đặng Thiện Chí
    15/04/2011 23:28

    Sở giáo dục Bình Dương dung dưỡng cho người ra đề sai như vậy mà còn chống chế đồng ý là có thể nội dung của HK1 nhưng cũng chỉ 1 phần nào thôi kiểm tra như vậy thì làm sao gọi là thi HK2? không có phần nào của HK2 thì thi HK2 sửa lai là thi thử tốt nghiệp cho rồi giáo viên đang dạy ở chương này mà kiểm tra chỉ cho toàn chương khác chắc mấy ổng đuổi khỏi ngành lính thì vậy đó còn quan làm sai thì cố chống chế

  • Phạm Khắc Tiến
    15/04/2011 23:45

    Với tư cách là một giáo viên đã từng dạy học tôi hoàn toàn đồng ý với cách làm của Sở GD-ĐT Bình Dương. Kiểm tra học kỳ II là lấy điểm cho học kỳ II không có nghĩa chỉ kiểm tra kiến thức học kỳ II. Nếu không làm được những kiến thức đã học ở học kỳ trước thì học kỳ II đáng được điểm 0. Trước giờ ta hay dạy học sinh thi cử kiểu "đối phó" nên thấy nó "kỳ kỳ" đấy thôi.

  • Huệ
    16/04/2011 00:44

    Ra đề thi như vậy không có gì là bất hợp lý cả vì nó không nằm ngoài những gì đã được học. Thi HK 2 lớp 12 mà ra nội dung học của lớp 11 hay lớp 10 thậm chí các lớp nhỏ hơn cũng không sao. Kiến thức được tư duy như thế nào là quan trọng chứ không phải thi để lấy điểm số cao.

  • Bùi Tấn Lâm
    16/04/2011 02:12

    Đây là cách làm đánh đố học sinh. Sở GD ĐT Bình Dương đã chỉ đạo Ban ra đề làm sai về nguyên tắc cần rút kinh nghiệm. Giáo dục VN còn vô vàn khó khăn khi quản lý nhà nước còn yếu kém kể cả tư duy lẫn hành động đặc biệt là bệnh "phong trào" và hình thức. Chủ trương và kế hoạch phải khả thi đừng vẽ hươu vẽ vượn. Úc chế lắm.

  • Thầy Văn
    16/04/2011 05:17

    Nói thật Sở giáo dục không trực tiếp dạy học nên không nắm kỹ được chương trình bao việc ra đề bị sai là đúng cách làm này máy móc và có phần độc quyền bảo thủ. Sao không gọi những giáo viên có ở các trường về giao họ ra đề vậy có ổn không. Không phải hễ ở Sở là cái gì cũng giỏi hơn giáo viên đâu. Sai phải nhận mới người quân tử chối ngụy biện yếu hèn.

  • Hòa
    16/04/2011 07:39

    Quan liêu quá đã thế còn không dám nhận thiếu sót.

  • huỳnh lai giang
    16/04/2011 08:06

    Làm vậy khác nào điệu hổ ly sơn. Nếu nói như ông giám đốc Sở thì cho luôn nội dung ở lớp 11 lớp 10 hoặc ở những lớp khác cho rồi. Ông ấy là giám đốc Sở mà sao không đặt mình trong trường hợp là những học sinh hay có con em mình bị kiểm tra đề học kỳ II đó khi phát biểu báo chí vậy nhỉ. Thật không hiểu nổi.

  • huỳnh văn hiếu
    16/04/2011 08:38

    Theo tôi chuyện ra đề như thế là hoàn toàn bình thường đã học thì không phân biệt đó là học kỳ nào có như thế mới thấy được học sinh học rồi có nhớ mà làm bài không có như vậy mới đánh giá được tốt hơn. Tôi ủng hộ cách ra đề này.

  • Trần Hoàng Tân
    16/04/2011 08:39

    Đã là học kì cuối của năm 12 thì theo tôi có thể ra đề cho toàn bộ chương trình của cả 3 năm phổ thông. Học hành chống chế thành tích nên giờ ra đề như Sở GD-ĐT Bình Dương thì bị hụt kiến thức và bất ngờ còn đâu thành tích. Tôi ủng hộ việc kiểm tra như Sở GD-ĐT Bình Dương.

  • Lê Thanh Trang
    16/04/2011 08:42

    Tôi đồng ý và ủng hộ cách ra đề của Sở GD-ĐT tỉnh Bình Dương học kỳ 2 mà kiến thức của kỳ 1 không biết nữa thì làm sao thi đại học. Mục đích của 12 năm ngồi trên ghế nhà trường là vào đại học hay là lấy điểm cao trong kỳ thi thử. Mấy người có thái độ bức xúc cần xem lại cách học của mình. Tôi nghĩ kỳ thi thử này của tỉnh Bình Dương em nào đạt điểm kém đó là kết quả xứng đáng cho cách học của em đó.

  • Bình Minh
    16/04/2011 08:51

    Tôi đồng ý với cách ra đề của Sở GD-ĐT tỉnh Bình Dương học kỳ 1 và học kỳ 2 đó chỉ là khái niệm về thời gian của một năm học không nhất thiết phải ra đề mà nội dung toàn là kiến thức ở học kỳ 2 theo lời ông Dương Thế Phương trao đổi với báo Người Lao Động đây là năm đầu tiên Sở triển khai nội dung ra đề ở học kỳ 2 sẽ là chương trình cả năm học để tránh học sinh học tủ. Có thể do một số thầy cô chưa nắm được nội dung triển khai này nên hướng dẫn học sinh ôn tập theo những năm học trước dẫn đến kết quả của các em không cao. Trước hết cần xem lại ban giám hiệu các trường có triển khai nội dung ôn tập này thật cụ thể đến từng giáo viên trong buổi họp hội đồng sư phạm hay họp tổ chuyên môn chưa thì sẽ biết lỗi này thuộc về ai.

  • Anh Nguyen
    16/04/2011 09:26

    Từ mẫu giáo đến lớp 11 cũng đã học hết rồi. Thôi thì ta gom vô ra đề thi HK2 của lớp 12 luôn cho phong phú đề tài ra đề. Mong các bác ở Sở GD&ĐT nghiên cứu ý kiến của em ạ.

  • phan minh hiếu
    16/04/2011 09:39

    đề nào không quan trọng miễn là năm trong hệ thống đề tuỳ theo từng cấp thi học kỳ II ra đề học kỳ I là đều bình thường cái chính Thầy Cô xem lại có bao nhiêu % học sinh của mình làm bài theo thang điểm tốt hãy làm một cuộc khảo sát nhỏ 10 em học sinh làm bài văn đó ở HK I được bao nhiêu điểm đối chiếu với bài thi HK II hiện tại đi. được bao nhiêu % điểm hơn hoặc bằng? lúc đó hãy đánh giá- đến chuyện nói này nọ như một giáo viên tổ trưởng môn văn ở Bình Dương đánh giá ở trên. các bạn đọc hãy cho ý kiến về điều này.

  • Lâm Hoàng Lam
    16/04/2011 09:46

    Chào bạn Phạm Khắc Tiến và bạn Huệ hai bạn nói cũng có lý của nó. Nhưng theo tôi đề kiểm tra này nên gọi là đề kiểm tra cả năm. Sở Giáo Dục đứng đầu là ông Phương nên suy nghĩ câu chữ nếu có cải cách thì thì không nên để là đề thi kiểm tra học kỳ 2. Theo tôi không chỉ có môn Văn mà tất cả các môn khác cũng gọi là kiểm tra cả năm. Khi tính điểm trung bình cho cả năm thì điểm học kỳ 1 sẽ nhân hệ số thấp hơn điểm kiểm tra cả năm... Còn cái đề bên trên thì ông Phương hãy nhận lỗi có sự sai sót đi trong 3 câu thì cũng nên có 1 câu trong học kỳ 2 chứ. Như vậy mới thể hiện tính bao quát của đề thi.

  • Thu Thu
    16/04/2011 11:36

    Không thể hiểu nổi cách giải thích của thầy Phương. Kiểm tra học kì II thì kiến thức ở học kì II chống học tủ cũng của học kì II. Còn nếu thầy muốn ra cả năm thì bảo là thi thử quách đi. Tôi nghĩ người ra đề không nắm được chương trình rồi biện minh thế thôi!

  • Lê Minh
    16/04/2011 11:58

    Tôi hoàn toàn đồng ý cách làm của Sở Giáo dục Bình dương. Lâu nay mọi người cứ chê con em chúng ta học tù học lấy điểm số mà không thực chất giờ Sở mới thỉ điểm một chút mà bị nói tơi tả. Không hiểu nổi. Đúng là lưỡi người Việt mình không xương

  • Phạm Khắc Tiến
    16/04/2011 12:20

    Gởi bạn Lâm Hoàng Lam: Theo tôi câu chữ không phải là vấn đề vấn đề ở chỗ ta hiểu nó thế nào. Về logic đã có "thi học kỳ I" ắt phải có "thi học kỳ II". Không có bài "thi cả năm" thì phải hiểu thi học kỳ II đảm trách luôn việc đó. Đó là lý do tại sao học kỳ II được nhân hệ số cao hơn học kỳ I. Thi học kỳ là để kiểm tra kiến thức suốt một quá trình chứ không như những bài kiểm tra 15 phút 1 tiết... (đánh giá chính xác những gì vừa học) rải rác trong suốt học kỳ. Khi những "kiến thức nền" và những vấn đề trọng tâm được đặt ra ở học kỳ I thì việc lập đi lập lại nhiều lần cũng là cách hay triệt tiêu cách học đối phó và giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản. Đó mới thật sự là khoa học.

  • Mr Sơn
    16/04/2011 13:14

    Thầy Phương ơi ! thầy Phương!!! Thầy là giám đốc Sở mà có cách nhìn không thực tế thế!!! (thầy có học qua lớp sư phạm chưa vậy!!!) --> cái đề này nên đổi tên là "Đề thi thử tốt nghiệp" !! PS

  • hoc sinh 12
    16/04/2011 15:16

    trong thoi gian on chi von ven 1 tuan hoc chi la 4 ngay voi ca 6 mon mon nao cung toan bo huong trinh sao hoc het noi.may thay o so lam dc chuyen do ko ko lam bai dc ko phai do ko hoc ma wa nhiu nen nhung j la trong tam phai nam vung hon chu nhin thi it ma o hoc moi bit no nhiu nhu the nao

  • Minh Thư
    16/04/2011 22:14

    Theo tôi thi học kì 2 mà đề thi chỉ toàn nội dung học kì 1 là không được. Mỗi khi con tôi chuẩn bị thi tôi bỏ rất nhiều thời gian và công sức ra để ôn bài cho con đặc biệt là những môn khoa học xã hội. Con tôi học hành nghiêm túc không bao giờ học tủ nhưng nếu cháu bỏ nhiều sức lực tập trung cho bài ở học kì 2 mà đề cho hoàn toàn ở học kì 1 thì tôi nghĩ cháu sẽ bị mất tinh thần dẫn tới làm bài không được tốt ít nhất cũng phải có một phần nào đó ở học kì 2 chứ. Nói như thầy Phương tôi không đồng ý thầy không thể đánh đố học trò như vậy được tôi vẫn rất sợ cái kiểu "tư duy máy lạnh" phi thực tế của các thầy ở phòng và sở lắm rồi không thể đối xử với học sinh như thế! Nếu giáo viên mà ra đề như vậy thì chắc vấn đề sẽ được các thầy giải quyết theo kiểu khác rồi phải không thầy Phương?

  • Nguyễn Trần
    17/04/2011 00:46

    Chủ trương của SGD&ĐT Bình Dương như thế là đúng và đề kiểm tra như thế không phải là sai sót. Học tập là cả một quá trình và kiến thức là cả một hệ thống và hoàn chỉnh. Các Bác nghĩ sao khi ở các nước có nền giáo dục tiên tiến người ta luôn khuyến khích việc ra những đề thi có những câu hỏi mở.

  • Nguyễn Ngọc Hiên
    17/04/2011 07:55

    Đề ra không đảm bảo tính khoa học và sư phạm. Nếu muốn ra chương trình cả năm thì phải ghi rõ là "Thi thử TN THPT" còn nếu "thi HK II" thì chỉ ra trong chương trình HK II. Nếu người ra đề đưa vào cả chương trình HK I và HK II thì có lẽ còn biện bạch theo lý luận của ông Giám đốc. Đằng này nghiệp vụ của người ra đề quá yếu. Đó là chưa kể nhiều giáo viên kinh nghiệm biết rằng kỳ thi TN và ĐH năm nay rất khó có khả năng ra những tác phẩm trên

  • Trần văn Nam
    17/04/2011 09:31

    Nhiều bạn cho rằng thi lớp 12 có thể ra đề cả 12 năm học điều này chỉ đúng với môn Tiếng Anh. Xin hỏi bạn: nếu thi Văn 12 mà ra đề phân tích bài "Mèo con đi học" (bậc tiểu học) thì có được không? Hoặc thi ĐH mà ra đề "3 quả cam + 2 quả cam = ?" thì có mang tính sư phạm không? Những người ủng hộ đề thi có vẻ như là người của Sở GD Bình Dương (!)

  • NAD - YUKI
    17/04/2011 09:40

    Đề của Sở Giáo dục ra bất cập quá. Chúng em làm bài không được.

  • Anh Duy
    17/04/2011 09:53

    Đề thi thì bao gồm chương trình cả học năm mà khi đó chỉ báo trước cho học sinh 1 tuần. Hỏi làm sao giáo viên ôn kịp lấy đâu ra mà "triển khai tốt" nhưng thầy Phương nói. Ôn 6 môn nghỉ 3 ngày thứ 2 3 4. Khi sở ra đề rồi thì mới họp giáo viên bộ môn các trường vào những ngày sắp đến kì thi làm những trường không có giáo viên dạy bù thì bị mất tiết. Hỏi sở cho họp GV làm gì khi làm mất tiết học? Đề sở đã ra rồi thì hỏi giáo viên còn đóng góp được gì nữa! GV lên đó họp nói chuyện đã rồi về làm mất thời gian công sức GV gây mất tiết ôn tập quý giá của học sinh mất kinh phí. Vậy hỏi Sở GD Bình Dương họp để làm gì mà lại cho đề như vậy? Thiết nghĩ sở GD muốn đổi mới là tốt nhưng cánh đổi mới như vậy còn nhiều bất cập thiếu khoa học.

  • HS 12 mono
    17/04/2011 10:14

    E nghĩ người ra đề chỉ làm việc ở sở thôi thì đúng là lãng phí tài năng seo ko lên bộ làm lun yk...

  • hoc sinh 12
    17/04/2011 10:21

    E nghĩ nên ra toàn bộ năm học nhưng thi học kì 2 thì nên lấy học kì 2 làm trọng tâm

  • Nguyen Thi Tình
    17/04/2011 11:49

    Tôi nghĩ đề thi sở ra như vậy là không khoa học. Qua đó vô tình muốn nói rằng: việc giáo viên và học sinh nai lưng ra đánh vật với kiến thức của hơn 4 tháng học kỳ II là không cần thiết hay muốn nhắn nhủ với học sinh rằng: lượng kiến thức học kỳ II là không đáng để học (!). Tôi đồng ý với chủ trương cho đề cả năm nhưng phải lấy học kỳ II làm trọng tâm: 3 phần thuộc học kỳ I 7 phần thuộc học kỳ II thì không có gì đáng nói. Đàng này các ông ở trên chỉ biết ngồi không sáng tạo ra những kiểu đề thi đánh đố học sinh. Không biết khi nào nền giáo dục Bình Dương mới có thể "khá" lên đây?

  • Nguyễn Văn Tứ
    17/04/2011 12:27

    Cần xem lại cách ra đề thi. Tôi nhận thấy việc ra đề kiểm tra học kì II của Sở GD-ĐT Bình Dương như vậy là không hợp lí. Nhiều bạn đọc không đồng tình với cách ra đề như vậy là xác đáng cần ghi nhận. Theo chủ trương thì sở nên ra đề thi có cấu trúc 60-70% nội dung học kì II còn 30-40% là nội dung ở học kì I là hợp lí nhất.

  • duong hoang
    18/04/2011 07:10

    đề nào củng như đề nào quan trọng là thi tốt nghiệp thpt với thi đại học.

  • Thanh An
    19/04/2011 16:30

    Cách lập luận của giám đốc về việc ra đề KT HK2 môn văn vừa qua là không đúng. Đó là cách biện bạch để chạy tội mà thôi không thẳng thắn nhận khuyết điểm trong công tác chỉ đạo không lắng nghe ý kiến góp ý của các trường thì làm sao chỉ đạo tốt trong thời gian tới?

More...

MỘT BÀI THƠ VÀ CÁI CHẾT CỦA HAI CHA CON ĐẠI CÔNG THẦN

By Đinh Hà Triều

MỘT BÀI THƠ VÀ CÁI CHẾT

CỦA HAI CHA CON ĐẠI CÔNG THẦN

                                                                                                                          Mộng Đắc

 

Trung tuần tháng Chạp năm Ất Hợi 1815 (niên hiệu Gia Long thứ 14) trong giới quan lại ở Kinh thành Huế xôn xao bàn tán về một vụ âm mưu phản nghịch rất nghiêm trọng. Dư luận cứ nổi cộm dần lên qua những tin phong thanh làm mọi người bàng hoàng lo sợ tưởng như cảnh máu chảy đầu rơi cung điện bị tàn phá đến nơi. Nhưng sau đó người ta có thể yên tâm thở phào nhẹ nhõm vì âm mưu phản nghịch đó đã bị phát giác. Ngạc nhiên hơn khi được biết kẻ âm mưu phản nghịch chính là hai cha con một vị khai quốc công thần quyền cao chức trọng tại triều. Người có công phát giác vụ này cũng là một bậc trụ cột triều đình trong tay lại có chứng cớ hẳn hoi. Vậy sự thật về vụ án này như thế nào?


Chứng cớ là một bài thơ 8 câu như sau:

 

Văn đao Ái Châu đa tuấn kiệt

 

Hư hoài trắc trịch giục cầu ty

 

Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác

 

Thiện tướng phương tri Ký bắc Kỳ

 

Ư cốc hữu hương thiên lý viễn

 

Cao cương minh phượng cửu cao tri

 

Thử hồi nhược đắc sơn trung tể

 

Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.

 

Dịch ra là:

 

Ái Châu nghe nói lắm người hay

 

Ao ước cầu hiền đã bấy nay

 

Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn có

 

Ngựa Kỳ Ký bắc biết đâu thay

 

Mùi hương hang tối xa ngàn dặm

 

Tiếng phượng gò cao suốt chín mây

 

Sơn tể phen này dù gặp gỡ

 

Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.

 

Về mặt văn chương đây là một bài thơ hay. Nhưng ở đây người ta chỉ soi mói nội dung xem dụng ý tác giả là gì? Thực ra bài thơ này tác giả gửi cho bạn ở Ái Châu (Thanh Hóa). Vì từng nghe tiếng là bậc hiền nhân danh sĩ đời nay nên trong lòng mến mộ khát khao được gặp gỡ. Những từ “Ngọc phát Kinh sơn” “Ngựa Kỳ Ký bắc” “Mùi hương hang tối” “Tiếng phượng gò cao” là những lời hoa mỹ dùng để tâng bốc tài năng danh vọng của bạn. Ở đây không thấy một chữ một ý gì tỏ ra chê bai vua chúa hay oán hận triều đình khiến người ta lấy cớ để buộc tội phản nghịch. Thế nhưng vấn đề chết người lại ở hai câu cuối bài:

 

“Thử hồi nhược đắc sơn trung tể

 

Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”

 

Tất cả chứng cớ vụ án bài thơ phản nghịch đều gói gọn trong 14 chữ này. Tích xưa kể lại rằng: Đào Hoằng Cảnh đời Lương Vũ Đế (502-509) tài cao học rộng. Không ra làm quan mà ở ẩn trên núi mỗi khi nhà vua có việc gì khó khăn phải sai người vào núi hỏi ý kiến. Vì thế người đương thời gọi Đào Hoằng Cảnh là Sơn trung tể tướng (quan tể tướng trong núi). Tác giả bài thơ là anh học trò sao lại tham vọng có một vị Sơn trung tể tướng để làm gì? Để “giúp nhau xoay đổi hội cơ này” (Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky). Vậy là nhòm ngó mệnh trời rủ nhau cướp nước làm vua chứ còn gì nữa! Chính cái tham vọng ghê gớm ấy nó chứng tỏ dấu hiệu phạm tội của một âm mưu phản nghịch. Mà dưới chế độ quân chủ độc tôn một lời nói phạm thượng một chữ phạm húy cũng đủ mắc tội chết nữa là một bài thơ “đầy tham vọng” như thế.

 

Tác giả bài thơ này đúng hơn là bị vu cáo là tác giả lại chính là Nguyễn Văn Thuyên con ông Nguyễn Văn Thành Trung quân đô thống tước Quận công. Nguyễn Văn Thành là một người đã từng bôn ba theo Nguyễn Ánh từ thuở hàn vi cho đến khi Nguyễn Ánh thắng được nhà Tây Sơn thống nhất đất nước lên ngôi hoàng đế. Năm Gia Long thứ 10 (1811) vua giao cho Nguyễn Văn Thành chức Tổng tài đứng đầu việc biên soạn bộ luật Gia Long nổi tiếng. Bộ luật này được vua Gia Long phê duyệt và ban hành trong cả nước. Lúc xảy ra vụ án cậu ấm Nguyễn Văn Thuyên ông Nguyễn Văn Thành đang làm quan lớn triều đình. Một điều rất oái oăm là chính vì công danh phú quý to quá mà trong thâm tâm nhà vua không ưa ông lắm. Và ông Nguyễn Văn Thành còn bị nhiều người ghen ghét nhất là đại thần Lê Văn Duyệt. Hai con người này vốn có hiềm khích với nhau từ lâu. Thành tự phụ cho mình hơn văn võ toàn tài con nhà dòng dõi không phải như Duyệt xuất thân từ một anh hoạn thị chỉ nhờ đánh trận giỏi mà trở thành quận công đại tướng ngang bằng mình. Vì vậy Thành tỏ ý khinh bỉ Duyệt làm Duyệt rất ấm ức.

 

Thành có một môn khách tên là Hựu Nghi vẫn lui tới ăn ở trong nhà sau vì lầm lỗi với Thành nên phải bỏ trốn đi lòng đầy thù hận. Hựu Nghi theo về làm môn hạ cho Lê Văn Duyệt được Duyệt tin dùng dần dần cất nhắc đến chức Thiên sự Bộ Hình. Hựu Nghi cho tay chân là Trương Hiệu theo dõi cậu ấm Nguyễn Văn Thuyên con ông Thành. Thuyên đỗ cử nhân từ mấy năm trước nhưng tính tình hào phóng tự do không thích làm quan chỉ thích thơ phú.

 

Thuyên dựng một nếp nhà riêng ngày ngày tụ tập bạn văn nhân thi sĩ xa gần cùng nhau chè chén uống rượu ngâm thơ. Từ hội thơ phú kia mà Lê Văn Duyệt đã có trong tay bài thơ nêu trên do Hựu Nghi và Trương Hiệu mang đến tố giác nói là do Nguyễn Văn Thuyên viết ra. Lập tức Lê Văn Duyệt mang ngay “bài thơ tang chứng” này mật tâu với Gia Long. Lúc đầu Gia Long xem cho là việc chưa rõ ràng nên không tra xét. Về sau Hựu Nghi Trương Hiệu dùng tiền mua chuộc nhiều kẻ ghen ghét khác bảo họ cùng nhau đồng loạt kiện cáo cha con ông Thành. Nhà vua phải đưa vụ án này ra xét xử công khai sau lại giao cho Lê Văn Duyệt đích thân tra hỏi Thuyên buộc Thuyên phải thú nhận tội.

 

Dựa vào cớ con đã phạm tội tày đình đình thần buộc cả tội ông Thành tâu vua xử tử. Đến tháng 5 năm 1817 (niên hiệu Gia Long thứ 16) vụ cha con ông Thành trải qua một năm rưỡi triều thần xử một lần nữa vẫn buộc tội chết. Lại ghép vụ án này với một vụ khác ở Thanh Hóa mà cha con ông Thành không hề dính líu tới.

 

Sau khi xử án lúc về nhà giam ông Thành đã nói: “Án xử như thế là xong rồi. Vua bắt tôi chết mà tôi không chết thì không phải tôi trung”. Ngay hôm đó ông Thành ngồi viết tờ biểu trần tình để lại rồi uống thuốc độc chết. Trong tờ biểu có câu: “Người ta sớm rèn tối luyện thêu dệt ra tội ác cho cha con tôi không còn chỗ kêu ca. Đành chỉ có chết”.

 Mấy hôm sau đến lượt Nguyễn Văn Thuyên bị trói tay gông cổ điệu ra pháp trường để đao phủ cắt từng miếng thịt (tùng xẻo). Trong lúc đó thì Trương Hiệu nghênh ngang vào kho lĩnh thưởng 500 quan tiền. Thế là chỉ vì một bài thơ mà hai cha con đại thần Nguyễn Văn Thành đành ôm mối  hận ngàn thu.

 

Nguồn: thegioitrongta.com

More...

TRUNG QUỐC CÔNG BỐ BẢNG XẾP HẠNG MƯỜI NHÀ VĂN LỚN NHẤT TRONG LỊCH SỬ

By Đinh Hà Triều

TRUNG QUỐC CÔNG BỐ BẢNG XẾP HẠNG MƯỜI NHÀ VĂN LỚN NHẤT TRONG LỊCH SỬ


Báo mạng Trung Quốc www.xooob.com đã giới thiệu những kiểu phân loại văn học từ xưa đến nay ở Trung Quốc và công bố Bảng xếp hạng Mười   nhà văn nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Văn học cổ đại Trung Quốc phân thành Thi và Văn văn lại phân thành Vận văn  và Tản văn (văn vần và văn xuôi). Văn học hiện đại nói chung phân thành: Thi ca Tản văn Tiểu thuyết Hý kịch đồng thời gọi là bốn thể tài lớn của văn học. Thơ trữ tình và Tản văn (gọi chung là cổ văn) của Trung Quốc phát đạt từ rất sớm.

Dưới đây là Bảng xếp hạng Mười nhà văn (văn học gia) nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc:

1- Khuất Nguyên

2- Tư Mã Thiên

3- Đào Uyên Minh

4- Lý Bạch

5- Đỗ Phủ

6- Bạch Cư Dị

7- Hàn Dũ

8- Âu Dương Tu

9- Tô Thức

10- Tào Tuyết Cần

Dưới đây là phần tóm tắt thân thế và sự nghiệp của mười  nhà văn trong bảng xếp hạng này.

1 - Khuất Nguyên

Khuất Nguyên (khoảng năm 340 TCN- khoảng năm 278 TCN) dân tộc Hán người Đơn Dương nước Sở thời kỳ Chiến Quốc họ Khuất tên Bình tự Nguyên; Còn tự đặt tên là Chính Tắc tự Linh Quân. Khuất Nguyên là đời con của Khuất Giả con trai của Sở Võ Vương  Hùng Thông. Khuất Nguyên nêu cao chủ trương liên minh với nước Tề chống lại nước Tần đề xướng “mỹ chính” (cai trị đất nước bằng xây dựng tình cảm  yêu cái đẹp).

Khuất Nguyên là một trong những nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa vĩ đại nhất Trung Quốc cũng là thi nhân lừng danh và nhà chính trị vĩ đại sớm nhất của Trung Quốc. Ông sáng lập thể loại văn học “Sở từ” (cũng chính là sáng lập thể loại văn học “Từ phú”) cũng khai sáng truyền thống “Thảo hương mỹ nhân” (bù nhìn bằng cỏ thơm).

“Ly Tao” “Cửu Chương” “Cửu Ca” “Thiên Vấn” là những tác phẩm tiêu biểu chủ yếu nhất của Khuất Nguyên. “Ly Tao” là bộ thơ trữ tình dài nhất của Trung Quốc. Những tác phẩm của Khuất Nguyên mà hậu thế xem được đều xuất hiện ở trong bộ sách “Sở Từ” do học giả Lưu Hướng thời Tây Hán biên tập. Bộ sách này chủ yếu là tác phẩm của Khuất Nguyên trong đó có một thiên “Ly Tao” mười một thiên “Cửu Ca” (“Đông Hoàng Thái nhất” “Vân Trung Quân” “Tương Quân” “Tương phu nhân” “Đại Tư mệnh” “Thiếu Tư mệnh” “Đông Quân” “Hà Bá” “Sơn Quỷ” “Quốc Táng” “Lễ Hồn”) chín thiên “Cửu Chương” (Tịch dũng” “Thiệp Giang” “Ai Sính” Trừu tư” Hoài sa” “Tư mỹ nhân” “Tịch vãng nhật” “Triết tụng” “Bi hồi phong”) một thiên “Thiên vấn” v.v…

Hồi trẻ Khuất Nguyên được vua Sở Hoài Vương tín nhiệm bổ nhiệm làm Tả đồ Tam lư đại phu thường xuyên cùng Sở Hoài Vương thương nghị quốc sự tham gia xây dựng pháp luật chủ trương pháp luật nghiêm minh cử tuyển sử dụng hiền tài cải cách chính trị liên minh với nước Tề chống lại nước Tần. Đồng thời Khuất Nguyên chủ trì công tác ngoại giao chủ trương nước Sở liên hiệp với nước Tề cùng nhau ngăn chặn chống lại nước Tần.

Với sự nỗ lực của Khuất Nguyên sức mạnh của nước Sở được tăng cường đáng kể. Nhưng do bản thân tính tình cương trực cộng với sự dèm pha và phỉ báng của người khác Khuất Nguyên dần dần bị Sở Hoài Vương xa lánh. Năm 305 trước Công nguyên Khuất Nguyên phản đối Sở Hoài Vương ký liên minh Hoàng Sắc với nước Tần song nước Sở vẫn triệt để ngả theo nước Tần. Khiến cho Khuất Nguyên bị Sở Hoài Vương trục xuất ra khỏi Sính Đô lưu lạc ở Hán Bắc.

Trong thời gian Khuất Nguyên bị trục xuất khỏi Sính Đô lưu đày Khuất     Nguyên cảm thấy trong lòng u uất bắt đầu sáng tác văn học trong tác phẩm tràn đầy nỗi lòng quyến luyến đất nước và phong cảnh nước Sở và nhiệt tình vì dân báo quốc.

Tác phẩm của ông văn tự hoa lệ tưởng tượng đặc biệt kỳ lạ tỉ dụ mới mẻ nội     hàm sâu sắc trở thành một trong những khởi nguồn của văn học Trung Quốc.

Năm 278 trước Công nguyên đại tướng Bạch Khởi nước Tần chỉ huy đại quân tiến đánh phía nam công phá Sính Đô. Trong lòng tuyệt vọng và bi phẫn Khuất     Nguyên đã ôm tảng đá lớn nhảy xuống sông Mịch La mà chết.

Năm 1953 là năm kỷ niệm lần thứ 2230 năm qua đời của Khuất Nguyên Hội đồng Hoà bình thế giới thông qua quyết nghị xác định Khuất Nguyên là một trong bốn danh nhân văn hoá thế giới được kỷ niệm vào năm ấy.

 

2 - Tư Mã Thiên

Tư Mã Thiên sinh vào khoảng năm 145 TCN qua đời năm 90 TCN hưởng thọ 56 tuổi. Tư Mã Thiên tự Tử Trường là nhà sử học nhà văn học nhà tư tưởng vĩ đại thời Đông Hán.

Tác phẩm “Sử Ký” do ông biên soạn là bộ thông sử thể ký sự đầu tiên của Trung Quốc được Lỗ Tấn ca ngợi là khúc ca tuyệt với của sử gia là “Ly Tao” không vần.”

Tư Mã Thiên là người Long Môn Hạ Dương thời Tây Hán. Hạ Dương (phía nam Hàn Thành tỉnh Thiểm Tây ngày nay) là tên huyện gần sát Long Môn. Cho nên Tư Mã Thiên tự xưng là “Thiên sinh Long Môn” (Lời nói đầu tự truyện Thái Sử công). Long Môn núi Long Môn rất có danh khí. Truyền thuyết kể rằng: Đại Vũ đã từng khai sơn trị thuỷ tại Long Môn. Phía nam núi Long Môn là sông Hoàng Hà.  Gia đình của Tư Mã Thiên ở đúng giữa Hoàng Hà và Long Môn. Danh thắng cổ tích ở địa phương này rất nhiều. Hồi nhỏ được thưởng lãm thăm thú mọi núi sông danh lam thắng cảnh đồng thời Tư Mã Thiên cũng có cơ hội nghe được rất nhiều truyền thuyết và truyện lịch sử.

Năm sinh năm mất của Tư Mã Thiên chưa được ghi chép rõ ràng trong chính sử.

Trong tác phẩm “Thái sử công hành niên khảo” học giả Vương Quốc Duy cho rằng Tư Mã Thiên sinh vào năm Trung Nguyên thứ năm thời Hán Cảnh Đế (năm 145 TCN) qua đời vào khoảng năm Sử Nguyên thời Hán Chiêu Đế (năm 86 TCN) hưởng thọ 60 tuổi.

Nghe nói đại gia đình Tư Mã Thiên từ thời Đường Ngu đến thời Chu đều là các nhà lịch sử và nhà thiên văn nối dõi nhiều đời. Tư Mã Thoa là danh tướng phạt Thục thời Tần Huệ Vương. Tư Mã Xương là Thiết quan của Tần Thuỷ Hoàng. Đến phụ thân của Tư Mã Thiên là Tư Mã Đàm lại làm Thái sử lệnh của Hán Võ Đế đã khôi phục chức nghiệp sử quan tổ truyền lâu đời.

 

3 -  Đào Uyên Minh

Đào Uyên Minh (khoảng 365-427) tự Nguyên Lượng cuối đời đổi tên thành Tiềm. Có thuyết nói tên Tiềm tự Uyên Minh. Tự gọi mình là Ngũ Liễu tiên sinh sau khi từ trần bạn bè người thân gọi tên huý là Đoan Tiết cho nên người đời còn gọi là Đoan Tiết tiên sinh. Ông là người Sài Tang Tầm Dương (thành phố Cửu Giang ngày nay) là thi nhân nhà từ phú nhà tản văn cuối thời Đông Tấn đầu thời Nam Triều.

Đào Uyên Minh xuất thân trong một gia đình quan lại sa sút. Cụ ông Đào Khản là công thần khai quốc thời Đông Tấn quân công hiển hách làm quan đến chức Đại Tư mã Đô đốc quân sự 8 châu Thứ sử hai châu Kinh Giang được phong là Trường Sa quận công. Ông nội là Đào Mậu phụ thân Đào Dật đều từng làm Thái thú.

Thời ấu thơ gia đình suy vi lên 9 tuổi cha chết sống với mẹ và em gái. Là cô nhi quả mẫu ba người đa phần sống ở trong nhà ông ngoại là Mạnh Gia. Mạnh Gia là danh sĩ đương thời “không kết bạn tuỳ tiện không phô trương sa sỉ ít khi tươi cười. Nấu rượu ngon uống nhiều mà không say khi đắc chí thìkhông coi ai ra gì” (mục hạ vô nhân). Đào Uyên Minh “biết xử thế thích làm theo ông ngoại.” Sau này cá tính tu dưỡng của ông đều có nhiều điểm giống phong cách của ông ngoại.

Trong gia đình ông ngoại lưu trữ nhiều sách tạo điều kiện cho Đào Uyên Minh đọc sách cổ và tìm hiểu lịch sử. Trong thời đại Lưỡng Tấn học giả tôn sùng “Trang” “Lão” coi thường “Lục Kinh” song ông không giống các sĩ đại phu thông thường học “Lão Tử” “Trang Tử” mà còn học “Lục Kinh” của Nho gia và những loại “sách khác” như văn sử cùng các loại sách thần thoại.

Với ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng thời đại và hoàn cảnh gia đình khiến cho ông tiếp thụ hai loại tư tưởng khác của Nho gia và Đạo gia bồi dưỡng nên hai hứng thú khác nhau là “thăm thú tứ hải” và “yêu thích núi đồi”.

 

4 - Lý Bạch

Lý Bạch (701-762) dân tộc Hán tự Thái Bạch hiệu Thanh Liên Cư Sĩ được mệnh danh là “Thi tiên” sánh vai với Đỗ Phủ nên gọi chung là “Lý Đỗ”. Thân hình cao trên 7 thước (khoảng 1 83 mét). Sinh ra tại Đô hộ phủ Tây An chết tại Diệp Thành thuở nhỏ di cư đến huyện Xương Long Cẩm Châu Tứ Xuyên (thành phố Giang Du tỉnh Tứ Xuyên ngày nay thuyết này do Quách Mạt Nhược là đại biểu; Lại có thuyết cho rằng Lý Bạch sinh ra tại thành phố Giang Du Tứ Xuyên).

Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa vĩ đại thời nhà Đường. Phong cách thơ của ông hào phóng bay bổng tưởng tượng phong phú ngôn ngữ lưu chuyển tự nhiên âm luật hài hoà đa biến. Ông khéo léo hấp thu chất liệu từ trong dân ca thần thoại cấu thành sắc thái lung linh sán lạn chỉ có ở ông là đỉnh cao mới của thi ca lãng mạn chủ nghĩa       tích cực có từ Khuất Nguyên.

Hàn Dũ đã viết: “Lý Đỗ văn chương tại quang diệm vạn trượng trường” (Văn chương của Lý Bạch và Đỗ Phủ còn thì ánh sáng chiếu xa vạn trượng- “Trọc Trương Tịch”).

Vua Đường Văn Tông đã ngự phong Thơ của Lý Bạch Múa kiếm của Bùi Án Thảo thư của Trương Húc là “Tam tuyệt”.

Kiếm thuật của Lý Bạch tại triều Đường có thể xếp thứ nhì (dưới Bùi Án) nhưng nếu như Lý Bạch bỏ văn theo võ chuyên tâm nghiên cứu kiếm thuật tin rằng sẽ không   kém gì Bùi Án. Khi còn trẻ Lý Bạch là một vị hiệp sĩ trên đường gặp sự bất bình bèn   rút đao tương trợ. (Điều này có liên quan đến tư tưởng hiệp sĩ một trong ba tư tưởng lớn của ông) trong “Dã sử” có nhiều ghi chép về phương diện này.

 

5 - Đỗ Phủ

Đỗ Phủ (712-770) dân tộc Hán tự Tử Mỹ người huyện Củng tỉnh Hà Nam (Củng Nghĩa Trịnh Châu ngày nay) người đời gọi là Đỗ Công Bộ Đỗ Thập Di tự gọi  mình là Thiếu Lăng Dã Lão (ông già quê mùa ở Thiếu Lăng) là thi nhân hiện thực chủ nghĩa vĩ đại thời nhà Đường ở Trung Quốc.

Đỗ Phủ là nhà thơ hết lòng vì nước vì dân được người đời mệnh danh là Thi Thánh được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn  hoá thế giới sánh vai với Lý Bạch mệnh danh chung là “Đại Lý Đỗ”.

Quê cha đất tổ của Đỗ Phủ ở Tương Dương (thành phố Tương Phàn tỉnh Hồ Bắc ngày nay) viễn tổ là cụ Đỗ Dự công danh hiển hách thời nhà Tấn ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn thi nhân đầu triều Đường.

Đỗ Phủ đã từng đảm nhiệm Tả Thập Di Kiểm hiệu Công Bộ viên ngoại lang vì thế hậu thế gọi ông là Đỗ Thập Di Đỗ Công Bộ. Đỗ Phủ sinh sống trong thời kỳ lịch sử từ thịnh chuyển sang suy của triều Đường thơ của ông đa số viết về xã hội động loạn    chính trị hắc ám nhân dân thống khổ nên thơ của ông được mệnh danh là “Thi sử”.

Đỗ Phủ lo cho nước lo cho dân nhân cách cao thượng thi nghệ thậm tinh được hậu thế mệnh danh là “Thi Thánh”. Suốt đời Đỗ Phủ viết được trên 1.400 bài thơ trong đó rất nhiều tác phẩm nổi tiếng truyền tụng thiên cổ ví dụ “Tam lại” và “Tam biệt” đồng thời có “Đỗ Công Bộ tập” lưu truyền nhiều đời; Trong đó “Tam lại” là “Thạch Hào lại” “Tân An lại” và “Đồng Quan lại”; “Tam biệt” là “Tân hôn biệt” “Vô gia biệt” và “Thuỳ Lão biệt”.

Thơ của Đỗ Phủ có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài với hậu thế.

 

6 - Bạch Cư Dị

Bạch cư Dị (772-846) dân tộc Hán tự Lạc Thiên hiệu Hương Sơn Cư Sĩ người Hạ Khuê (đông bắc Vị Nam tỉnh Thiểm Tây ngày nay) là thi nhân và văn học gia lừng danh và có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài trong lịch sử văn học Trung Quốc được mệnh danh là “Thi Ma” và “Thi Vương”.

Thơ của ông có ảnh hưởng sâu rôngj ở các nước Trung Quốc Nhật Bbản và Triều Tiên v.v… là lãnh tụ của “Phong trào Lạc Phủ mới”.

Quê cha đất tổ của Bạch Cư Dị ở Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây cụ nội di cư đến Hạ Khuê (bắc Vị Nam tỉnh Thiểm Tây ngày nay) ông nội Bạch Hoàng lại di cư đến Tân Trịnh tỉnh Hà Nam.

Bạch Cư Di sinh ngày 20 tháng giêng năm Đại Lịch thứ 7 triều Đường đại Tông (28-2-772 dương lịch) tại thôn Đông Quách Vu phía tây thành Tân Trịnh (chùa Đông Quách ngày nay). Cuối đời Bạch Cư Dị  cư trú lâu dài tại Hương Sơn Lạc Dương có tên hiệu là “Hương Sơn Cư Sĩ”.

Tháng 8 năm Hội Xương thứ 6 thời Vũ Tông (năm 846) Bạch Cư Dị từ trần tại Lạc Dương an táng tại Hương Sơn thành phố Lạc Dương hưởng thọ 75 tuổi.

Sau khi ông qua đời Vua Đường Tuyên Tông Lý Thẩm đã ngự bút trực tiếpviết thơ tưởng niệm nhà thơ Bạch Cư Dị.

Tác phẩm để lại có “Bạch thị Trường Khánh tập” 71 quyển.

 

7 - Hàn Dũ

Hàn Dũ (768-824) nhà văn học nhà triết học thời nhà Đường tự Thoái Chi người Hà Dương (thành phố Mạnh Châu Tiêu Tác tỉnh Hà Nam ngày nay dân tộc Hán. Quê cha đất tổ ở Xương Lê tỉnh Hà Bắc người Đời gọi là Hàn Xương Lê. Cuối đời làm Lại bộ thị lang nên còn gọi là Hàn Lại Bộ. Tên thuỵ là “Văn” nên còn gọi là Hàn Văn Công.

Hàn Dũ là người đề xướng Phong trào Cổ văn thời nhà Đường chủ trương học tập ngôn ngữ tản văn của Tiên Tần và Lưỡng Hán phá biền ngẫu thành tản văn khuyếch đại chức năng biểu đạt của thể loại văn ngôn. Người triều Minh tiến cử ông là Người đứng đầu “Đường Tống bát đại gia” sánh vai với Liễu Tôn Nguyên gọi chung là “Hàn Liễu” có các tên khác là “Văn Chương Cự Công” và “Bách Đại văn tôn”.

Tác phẩm của ông đều được tập hợp trong “Xương Lê tiên sinh tập”.

Hàn Dũ còn là một người thợ cự phách về ngôn ngữ. Ông khéo léo sử dụng từ ngữ của tiền nhân lại chú trọng tinh luyện khẩu ngữ đương đại để sáng tạo ra rất nhiều ngữ cú mới trong đó có không ít câu đã trở thành thành ngữ lưu truyền đến nay như “Lạc tỉnh hạ thạch” (Người đã ngã xuống giếng còn bị ném đá theo) “Tạp loạn vô chương” (văn chương lộn xộn) v.v… Về tư tưởng ông là người xác lập quan niệm “đạo chính” Trung Quốc là nhân vật cột mốc tôn Nho phản Phật.

Ba tuổi Hàn Dũ đã mồ côi cha mẹ được anh và chị dâu dưỡng dục ngay từ nhỏ đã phải sống lang thang khốn khổ có chí học hành kinh bang tế thế tuy mồ côi nghèo khó nhưng hiếu học. Năm 20 tuổi lên Trường An thi Tiến sĩ ba lần thi đều không đậu. Sau năm 25 tuổi ông thi đỗ Tiến sĩ sau thi Bác học không đỗ nên đến nhậm chức ở hai Phủ Tiết độ sứ của Đổng Tấn (Biện Châu) và Trương Kiến Phong (Từ Châu).

Sau trở về kinh thành nhiệm chức Bác sĩ tứ môn. Sau năm 36 tuổi ông làm Giám sát ngự sử bởi vì dâng tấu chương bàn luận về trời hạn người đói kiến nghị miễn giảm phu thuế bị biếm chức xuống làm Dương Sơn lệnh. 

Khi Vua Hiến Tông trở về miền bắc vì là Bác sĩ quốc tử làm quan đến chức Hữu Thứ Tử Thái Tử những bất đắc chí. Sau khi 50 tuổi trước tiên từ Bùi Độ trưng Ngô Nguyên Tế sau di chuyển làm Thị lang Hình bộ. Vì can gián đón Phật cốt bị biếm chức đi làm Triều Châu thứ sử. Sau khi bị điều đi Viên Châu. Không lâu sau trở về triều đình từng đảm nhiệm các chức  Quốc tử giám Tế tửu Binh bộ Thị lang Kinh Diêu doãn. Về chính trị tương đối thành đạt. Thi ca đòi hỏi cầu kỳ mới lạ khí thế hùng hồn.

 

8 - Âu Dương Tu

Âu Dương Tu (1007-1072) tự Vĩnh Thúc dân tộc Hán tự đặt tên hiệu là Tuý Ông cuối đời có tên hiệu là Lục Nhất Cư Sĩ tên huý là Văn Trung người đời tôn xưng   là Âu Dương Văn Trung Công. Ông là người Vĩnh Phong Cát An (Giang Tây ngày nay). Nhưng ông tự nhận là người Lư Lăng vì Cát Châu vốn thuộc quận Lư Lăng sinh ra tại Cẩm Châu (Cẩm Dương tỉnh Tứ Xuyên ngày nay). Âu Dương Tu là nhà chính trị nhà văn học nhà sử học và thi nhân thời kỳ Bắc Tống.

Cùng với Hàn Dũ Liễu Tôn Nguyên (đời Đường) Vương An Thạch Tô Tuần Tô Thức Tô Triệt Tăng Củng (đời Tống) gọi chung là “Đường Tống bát đại gia” (tám nhà nổi tiếng thời Đường Tống).

Thời vua Nhân Tông làm các chức Tri Chế tạo Hàn Lâm học sĩ; Thời vua Anh     Tông làm quan đến chức Khu mật phó sứ Tham tri chính sự; Thời kỳ vua Thần Tông     làm Binh bộ Thượng thư Chí sĩ Thái Tử Thiếu soái. Sau khi qua đời tên huý là Văn Trung.

Ông đều có chủ trương cách tân về các phương diện chính trị và văn học vừa là người ủng hộ Phạm Trọng Yêm tiến hành tân chính Khánh Lịch cũng là người lãnh đạo phong trào cách tân thơ văn Bắc Tống. Ông hăng hái giúp đỡ những người đi sau cha con Tô Thức và Tăng Củng Vương An Thạch đều trưởng thành dưới trướng của ông. 

Thành tích sáng tác cũng hiển hách khả quan thơ từ tản văn đều đứng đầu một thời. Tản văn thuyết lý thoáng đạt trữ tình uyển chuyển; Thi phong và tản văn gần gũi trọng khí thế mà có thể lưu thoát tự nhiên; Từ của ông sâu sắc thanh thoát diễm lệ kế thừa phong vị của Nam Đường.

Ông đã cùng Tống Kỳ hợp tác biên soạn “Tân Đường Thư” một mình biên soạn “Tân Ngũ Đại sử”. Ông mê sưu tập văn tự kim thạch biên soạn thành “Tập cổ lục”. Những trước tác có “Âu Dương Văn Trung Công văn tập”. Thơ  “Đạp Sa hành”. Đồng thời trước tác “Tuý Ông đình ký” nổi tiếng.

Sau khi qua đời Âu Dương Tu được an táng tại Tân Trịnh Khai Phong (Tân Trịnh tỉnh Hà Nam ngày nay). Thôn Âu Dương Tự trấn Tân Điếm thành phố Tân Trịnh hiện có Lăng mộ Âu Dương Tu là đơn vị bảo hộ văn vật cấp quốc gia. Ngoài ra ngoại ô phía nam Miên Dương hiện nay cũng có từ đường thờ ông gọi là Lục Nhất đường.

 

9 – Tô Thức

Tô Thức (1037-1101) tự Tử Đam còn có tên tự là Hoà Trọng hiệu “Đông Pha Cư Sĩ” hưởng thọ 66 tuổi.

Năm Càn Thông thứ 6 triều Nam Tống ông đã được vau Cao Tông phong tặng danh hiệu Thái Sư. Tô Thức là người Mi Châu (Mi Sơn tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) dân tộc Hán con trai cả của cụ Tô Tuần nhà văn học nhà thư hoạ nhà tản văn thi nhân từ nhân nổi tiếng đời Bắc Tống ông là đại biểu của những từ nhân trường phái hào phóng.

Năm Gia Hựu thứ 2 (1057) và em trai Tô Triệt cùng đỗ Tiến sĩ. Được thụ phong  là Đại Lý Bình Sự Phán quan của Phủ Giám thư Phượng Tường.

Năm Hy Ninh thứ 2 (1069) sau khi mãn tang cha ông trở lại triều đình làm Phán quan Cáo viện. Do chính kiến không hợp với Vương An Thạch phản đối thực hành tân pháp tự xin ra ngoài nhậm chức ra làm Thông phán Hàng Châu. Sau đó còn di chuyển   làm Tri châu của Mật Châu (Chư Thành tỉnh Sơn Đông ngày nay) và Từ Châu.

Năm Nguyên Phong thứ 2 (1079) vì liên quan đến “Vụ án thơ U Đài” ông bị    trách phạt điều đi làm Đoàn luyện phó sứ của Hoàng Châu (Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc ngày nay) an tríở châu này nên không được ký tên vào công văn.

Khi lập vua Triết Tông Cao Thái Hậu nhiếp chính Tô Thức được phục chức Tri châu của Đăng Châu; Bốn năm sau được điều đi làm Lang trung Bộ Lễ nhậm chức chưa được mười ngày phải đi làm Xá nhân lo việc ăn ngủ trung thư sau điều sang làm Hàn Lâm học sĩ Tri Chế tạo Cống cử Bộ Lễ.

Năm Nguyện Hựu thứ 4 (1089) ông ra làm Tri châu Hàng Châu sau điều đi làm Tri châu của Dĩnh Châu Dương Châu Định Châu.

Nguyên Hựu thứ 8 (1093) vua Triết Tông trực tiếp điều hành chính sự Tô Thức bị biếm chức điều đi xa tận Huệ Châu (Huệ Dương tỉnh Quảng Đông ngày nay) sau lại bị biếm chức lưu đầy tại Chiêm Châu (Huyện Chiêm tỉnh Hải Nam ngày nay).

Khi vua Huy Tông tại vị ông được đặc xá trở về miền bắc đến năm Đoan Quốc thứ nhất (1101) Tô Thức qua đời tại Thường Châu (Giang Tô ngày nay) hưởng thọ 66 tuổi an táng tại huyện Hiệp Thành Nhữ Châu (Huyện Hiệp tỉnh Hà Nam ngày nay).

Ông cùng cha Tô Tuần (1009-1066) em trai Tô Triệt (1039-1112) đều nổi tiếng về văn học người đời mệnh danh là “Tam Tô”; lừng danh sánh vai với “Tam Tào phụ tử” (Tào Tháo Tào Phi Tào Thực) cuối vương triều Hán.

Là một từ nhân kiệt xuất ông đã mở đầu phong cách từ hào phóng sánh vai cùng từ nhân kiệt xuất Tân Khí Tật và được gọi chung là “Tô Tân”.

Tam Tô” là ba vị trong “Đường Tống bát đại gia” (Đường Tống bát đại gia là hợp xưng của 8 nhà văn viết tản văn nổi tiếng tiêu biểu thời kỳ Đường Tống tức là Hàn Dũ Liễu Tôn Nguyên (đời Đường) Âu Dương Tu Tô Tuần Tô Thức Tô Triệt Vương An Thạch Tăng Củng (đời Tống).

Tác phẩm của Tô Thức có “Đông Pha thất tập” “Đông Pha lạc phủ” v.v…

Về chính trị ông thuộc Cựu đảng do Tư Mã Quang làm lãnh tụ.

 

10 – Tào Tuyết Cần

Tào Tuyết Cần (1714- 1764).

Năm Càn Long thứ 28 (1763) con nhỏ của Tào Tuyết Cần chết sớm ông chìm đắm trong buồn thương và bi thống quá độ ốm nặng liệt giường. Đến đêm giao thừa năm ấy (12-2-1764) cuối cùng vì nghèo khó ốm nặng không có tiền chữa bệnh Tào Tuyết Cần đã qua đời hưởng niên 50 tuổi.

Tào Tuyết Cần “người béo đầu rộng da đen”. Ông tính cách kiêu ngạo phẫn uất bất bình trước thế tục hào phóng tự nhiên. Nghiện rượu tài ba ngang dọc khéo nói giỏi ăn.

Tào Tuyết Cần là một vị thi nhân. Thơ của ông lập ý tân kỳ phong cách gần như Lý Hạ thi nhân thời Đường. Quách Thành bạn ông đã từng hết lời ca ngợi: “Ái quân thi bút hữu kỳ khí”(Yêu anh thi bút diệu kỳ). Tào Tuyết Cần còn là một hoạ gia thích vẽ cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ như những hòn đá lạ chọc thẳng lên trời xanh.

Nhưng cống hiến lớn nhất của Tào Tuyết Cần còn ở lĩnh vực sáng tác tiểu thuyết.

Tiểu thuyết “Hồng Lâu Mộng” của ông nội dung phong phú tư tưởng sâu sắc nghệ thuật tinh thâm đẩy sáng tác tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc lên đỉnh cao nhất chiếm địa vị vô cùng trọng yếu trong lịch sử phát triển văn học thế giới.

“Hồng Lâu Mộng” là sản phẩm đã kết tinh tâm huyết của ông “phê duyệt mười năm thêm bớt năm lần từng chữ từng chữ đều là máu mười năm gian khổ chẳng tầm thường”.

80 hồi sau của bản “Hồng Lâu Mộng” hiện nay đang lưu truyền ông đã viết xong nhưng do rất nhiều nguyên nhân mà chưa lưu truyền lại.

Có giả thuyết cho rằng Cao Ngạc (có thể chỉ là người hiệu đính) viết tiếp.

 

VŨ PHONG TẠO giới thiệu và dịch

(Theo www.xooob.com 1/3/2010)

NGUỒN VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI

More...

NHÂN VẬT A PHỦ

By Đinh Hà Triều

                                         NHÂN VẬT A  PHỦ

 

 

                                                               Nhà văn TÔ HOÀI

 

 

alt

 

[…]  A Phủ không phải là sự tích một người thật việc thật. Tất cả tai nghe mắt thấy và những trải biết của tôi từ những sự thật ấy tổng hợp vào sáng tạo. Dọc đường A Phủ đã kể những gian truân của vợ chồng anh và mọi sinh hoạt khó khăn ở khu du kích đã bao năm. Tôi đã đến dự một đêm xử người bẻ trộm ngô hệt như đám xử kiện khủng khiếp đã miêu tả trong truyện và trong phim Vợ chồng A Phủ mà nhà văn Kim Lân đã đóng vai pụ pạng (thằng mõ) rất xuất sắc. Chỉ có điều là người đứng ra xử kẻ trộm ngô không phải là thống lý Pá Tra mà là cán bộ ta. Mới giải phóng địa phương có chủ trương giữ mọi phong tục tập quán không phân biệt là tốt hay là lạc hậu dã man.

Người cán bộ kết nghĩa anh em với A Phủ là những hoạt động thật của cán bộ địch hậu Chi Mai cán bộ phụ trách khu du kích Phù Yên. Chi Mai quê ở Hà Đông đã xung phong công tác Tây Bắc. Và phần nào trong tinh thần người cán bộ hậu địch có cả tôi. Tôi đi với Chi Mai nhiều xóm muốn giữ tôi lại làm thày giáo. Trong bữa rượu người ta hay đọ cánh tay nếu dài bằng nhau mà lại bằng tuổi thì nhất định chúng tôi phải kết làm anh em. Phong tục “ăn sùng” này gốc của người Tày người Thái một nếp sống vui và có ý nghĩa nhiều dân tộc khác đã bắt chước.

Câu chuyện A Phủ kể tôi đã ngẫm nghĩ mọi mặt tư tưởng tình cảm của đối tượng và của tội tất cả đã sáng tạo nên Vợ chồng A Phủ mà các bạn đã đọc. Có một quang cảnh khác là khu du kích trạm Tấu và bên bản Thái đều ở sâu trong rừng không trông được xuống núi như trong truyện kể. Cũng chuyến đi ấy tôi đã sang nhà lão du kích Triệu Văn Khìn người Dao ở mường Cơi. Đồn Tây dưới cánh đồng đã đánh lên núi mấy lần bị bố con ông Khìn lăn đá xuống chết mấy đứa không dám lên nữa. Ở chỗ nương nhà ông Khìn trông xuống thung lũng đồn mường Cơi rõ mồn một. Hôm ấy uống rượu ủ bột báng nhắm thịt phượng hoàng đất ông Khìn vừa đi bắn được tôi nhìn xuống và quyết định đưa cái động trông thấy ở mường Cơi sang cánh đồng dưới chân núi nhà nương của vợ chồng A Phủ.

Câu chuyện này nếu không nói bạn đọc có thể khó hiểu. Truyện Vợ chồng A Phủ những lần in đầu – năm 1954 có nhân vật thống lý Chống Lầu. Các lần in sau và bây giờ tôi đổi tên là thống lý Pá Tra. Tại sao vậy? Chống Lầu là tên ông thống lý ở Háng Chu tôi đã nhiều lần đến chơi ông thết khách thịt ngựa không muối. Tên ông Chống Lầu cũng điển hình tên con người ở tầng lớp trên. Ông không biết chữ lại ở khu du kích hẻo lánh thế này ông biết đâu tôi mượn tên ông.

Năm 1954 miền Bắc giải phóng ông Chống Lầu được cử ra làm phó chủ tịch khu tự trị Tây Bắc cơ quan ở thủ phủ Sơn La. Anh Hoàng Nó bấy giờ là bí thư tỉnh ủy Sơn La đã nhắn tôi viết hỏng rồi. Nếu đứa nào xấu mách ông Chống Lầu là thằng nhà báo năm ấy đã viết sách bảo Mo Chống Lầu là phản động thì nguy quá. Các buổi phát thanh tiếng Mường ở Sơn Dương đọc Vợ chồng A Phủ đều phải bỏ.

Một lần đi huyện Than Uyên tôi mượn quyển sổ ghi tên các người tù đương bị giam ở đây. Tôi nhặt ra tên một người tù là Pá Tra. Tôi đổi là thống lý Pá Tra từ ngày ấy chắc không lo trùng tên 

 


More...

HAI THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI THẦY

By Đinh Hà Triều

       HAI THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI THẦY


 

Lời ngỏ: Một nhà giáo một nhà ngôn ngữ học lớn của Việt Nam vừa tạ thế. ĐHT blog xin trích dẫn một phần nhỏ bài viết của một nhà giáo -vốn là học trò của người Thầy quá cố-  ghi lại mấy mẩu kí ức về người Thầy của mình. ĐHT thấy hai thái độ có vẻ ngược nhau của người Thầy khả kính đối với hai công trình kiến trúc- văn hoá có thể gợi cho ta nhiều suy nghĩ. Cũng xin nói thêm ĐHT mạo muội không ghi tên tác giả bài viết xin được thứ lỗi.  

 

alt

[....]
Hôm sau thầy trò đi thăm Hòn Đá Bạc một thắng cảnh của Cà Mau ở xã Khánh Bình Tây huyện Trần Văn Thời cách thành phố Cà Mau chỉ chừng 1 giờ đi xe hơi. Đường đi ngắn hơn nên trước khi đi thầy trò tranh thủ viếng Quan âm cổ tự và Thần Minh miếu ngay trong thành phố Cà Mau.

­­­­­Đền chùa ở đây không có gì thật đặc sắc. Nhưng thầy cứ săm soi đọc kỹ lưỡng mấy dòng chữ Hán khắc trên bia có lúc dừng lại ngẫm nghĩ. Nhớ xưa kia trong hoàn cảnh sơ tán để tránh bom Mỹ thầy cũng ‘tò mò” như thế lân la đến chỗ đền miếu để xem có tài liệu gì hữu ích cho khoa học chăng. Và thầy khám phá ra bản khắc Cao thượng ngọc hoàng bổn hạnh tập kinh lưu giữ ở Linh Tiêu quán xã Đức Thượng tỉnh Hà Tây (cũ) một cứ liệu quan trọng giúp thầy viết hai bài báo khoa học về sau thành một chương trong công trình nổi tiếng Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.

   (Và cũng không khỏi nhớ lại chỉ trước đó một tuần khi còn ở Sài Gòn chúng tôi tổ chức cho thầy đi thăm một khu du lịch nổi tiếng rộng đến 450 ha ở Bình Dương. Thành quách nguy nga đền đài tráng lệ kỳ hoa dị thảo có cả những con thú hiếm quý như sư tử trắng tê giác trắng hổ trắng công trắng …; chủ nhân còn kỳ công cho khắc thơ của mình trên đá trên gỗ ngay từ cổng vào cho đến những xó xỉnh bên trong. Thầy cũng có vẻ háo hức nhưng sau khi chăm chú đọc một vài bài thơ quan sát cách bài trí nội thất liếc nhìn các công trình xây dựng vẻ mặt thầy càng lúc càng thay đổi. Cuối cùng thầy nói gọn và dứt khoát: “Trọc phú!”. Rồi không thăm thú gì nữa thầy trò ghé vào quán nước. Ngồi nghỉ một chốc thầy đòi về Sài Gòn. Chuyến tham quan tưởng kéo dài cả ngày chấm dứt sớm hơn dự kiến).  

 


More...

ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ CỦA E.HEMINGWAY (Phần cuối)

By Đinh Hà Triều

ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ

CỦA E.HEMINGWAY (Phần cuối)

                                                                          PGS.TS LÊ HUY BẮC

 

 

4. Hành động theo cách của riêng mình

Đặc trưng nổi trội nữa trong tính cách nhân vật mã của Hemingway là họ tự xác lập một lối hành động cho riêng mình. Với cách sống đó ta thấy ở họ dáng dấp của kiểu nhân vật hiện sinh. Santiago là người gần như bị cộng đồng (chỉ còn mỗi thằng bé Manolin quan tâm) và bị cả tạo hoá bỏ rơi (không bắt được cá suốt 84 ngày) nhưng ông lão tin vào bản thân mình. Chỉ cần lão bắt được cá thì mọi sự sẽ chấm dứt. Ở đây tồn tại xung đột ngầm giữa một Santiago bị loại bỏ ra khỏi cộng đồng và một Santiago với cách thức tồn tại riêng của lão bên cộng đồng đó.

Lão hành động như sau: không hề nản chí mà cứ miệt mài ra khơi với hi vọng bắt được con cá xứng đáng với tài nghệ lão. Mục đích ban đầu của lão không phải vì những tiêu chí đánh giá của cộng đồng mà vì ý thức của lão muốn sống một cách tử tế theo cách riêng của lão. Lão đã bắt được con cá mà ngay cả đến trong mơ lão cũng chưa từng gặp. Con cá ấy lớn hơn bất cứ con cá nào trước đó được đưa vào cảng La Havana.

Santiago cũng như các nhân vật thuộc “thế hệ mất mát” đều tin vào các giá trị xác thực tin vào khả năng của chính bản thân mình. Santiago cầu Chúa giúp là chỉ giúp lão chịu đựng chứ không cầu giúp bắt con cá có nghĩa lão ý thức được thành quả lao động là phải do chính tay con người làm ra chứ không thể có Chúa nào làm giúp cả. Họ không tin vào những điều trừu tượng hoa mĩ như những gì Kinh Thánh giảng dạy. Do vậy việc Santiago hứa đọc kinh cầu Chúa giúp sức chỉ là một “phản xạ văn hoá” nhất thời (vì hằng bao thế kỉ người phương Tây sống theo những quy chuẩn đạo đức Thiên Chúa giáo). Bởi vì sau đó Santiago không đọc mà lão thầm nhủ: xem như đã đọc rồi. Sự bất tin ấy còn được đẩy đến mức bất kính. Tập trung nhất là ở chi tiết sau khi giết chết con cá ông lão thấy “mắt nó trông dửng d­ưng như­ những tấm kính trong kính viễn vọng hay như­ một vị thánh trong đám rước”.

Không dựa vào Chúa nhân vật của Hemingway dựa vào chính bản thân mình. Đây là giá trị nhân văn vô cùng to lớn. Santiago đặt ra cho mình mục đích và cách sống. Bây giờ lão đang đi gần đến cái đích; con cá sắp bị lão chinh phục. Không có thế lực nào ngăn cản lão ngoại trừ chính bản thân lão. Đến đây ta bắt gặp một ý tưởng độc đáo của nhà văn: con người trong cuộc khám phá chinh phục chính bản thân mình. Cuộc chinh phục của lão được tiến hành song song giữa hai đối tượng: đối tượng bên ngoài (con cá) và đối tượng bên trong (khả năng của thể trạng lão).

Hemingway không thật sự tập trung vào việc để nhân vật chinh phục thế giới bên ngoài. Tiêu điểm của ông hướng cả vào việc khai thác thái độ của nhân vật trước hoàn cảnh đó. Với Hemingway việc đánh một con cá lớn thì ai đó cũng có thể thực hiện được nhưng qua việc đánh cá đó để kiểm định khả năng tồn tại và ý nghĩa sống của con người thì chỉ có Santiago thực hiện được mà thôi.

Từ quan niệm này người đọc sẽ thấy Santiago rất nhiều lần bộc lộ mình qua những đối thoại. Trong cuộc chiến với con cá ông lão liên tục đối thoại với bản thân với mục đích giữ cho đầu óc tỉnh táo bàn tay khỏi bị chuột rút cơ thể khỏi bị đổ sập xuống vì cuộc chiến không cân sức. Khẩu hiệu chiến đấu của lão là tổng động viên mọi bộ phận trong cơ thể: “Kéo đi tay ơi lão thầm giục. Hãy đứng vững đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày ch­ưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ lật đ­ược nó”. Kết quả nhờ vào ý chí và sự điêu luyện tay nghề ông lão đã giết được con cá kiếm. Nhưng tâm trạng của ông lão không hoàn toàn phấn khích trước thành quả đó.

5. “Mày đang giết tao cá à”

Trong văn bản được chọn dạy người đọc chỉ tiếp xúc với hai nhân vật ông lão và cá kiếm. Cá kiếm là đối tượng ông lão cần chinh phục để duy trì sự sống vật chất (lão từng nhẩm tính số lượng thịt của cá kiếm có thể nuôi sống một người trong cả mùa đông) đồng thời cũng để khẳng định giá trị tinh thần vì với lão và với dân làng chài ấy một khi ngư dân không bắt được cá nữa thì người ấy được xem như đã chết. Cái chết về phương diện tinh thần.

Trong cuộc chinh phục cá kiếm ông lão cảm nhận được vẻ oai hùng sòng phẳng cao thượng ... của con cá nên cảm phục nó xem nó là bạn gọi nó là “người anh em”: “Mày đang giết tao cá à ông lão nghĩ. Nh­ưng mày có quyền làm như­ thế. Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng duyên dáng bình tĩnh cao thượng hơn mày ng­ười anh em ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”. Khoảng cách của người chinh phục và kẻ bị chinh phục đã được rút đến điểm không. Mối quan hệ giữa ông lão và cá kiếm lúc này không đơn thuần là quan hệ triệt tiêu một chiều mà là mối quan hệ đa diện phức tạp.

Ngợi ca con cá và hành động trung thực sòng phẳng của nó trong cuộc đối đầu với mình Santiago gợi cho người đọc ẩn ý thầm kín mà tác giả gửi gắm rằng trên đất liền ông lão không còn ai tri âm tri kỉ nữa cuộc sống loài người đã bị đảo điên ghê gớm các chân giá trị. Santiago không thể và không còn thuộc về thế giới ấy. Sự thẳng thắn cao thượng của ông lão chỉ có thể tìm được sự tri âm ở chốn biển khơi. Con cá là bạn lão cũng như đại dương bao la mới đích thực là ngôi nhà thân thiết của con người cô độc Santiago. Giống như mọi nhân vật mã khác của mình Hemingway kiến tạo một môi trường sống gần gũi với thiên nhiên cho nhân vật. Chỉ quay về với thiên nhiên nhân vật Hemingway mới tìm được sự lắng dịu tâm hồn sự đồng cảm. Mối quan hệ giữa ông lão và cá kiếm thể hiện rõ điều này.

Tuy nhiên không phải lúc nào mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên cũng suôn sẻ như nhan đề chỉ ra (Ông già và biển cả) mà thường xuyên là phức tạp. Mục tiêu của ông lão là giết chết con cá để tìm nguồn sống nhưng ngay tức khắc ông lão ý thức được rằng con cá là hiện thân của cái đẹp. Lão giết nó đồng nghĩa với việc giết chết cái đẹp. Nhưng lão không thể không giết chết nó. Đây chính là bi kịch muôn thuở của con người.

6. Lão cố thêm lần nữa

Để vượt qua con cá và qua những phức cảm trong tâm hồn ông lão chỉ còn cách “cố thêm lần nữa”. “Cố gắng” chính là nền tảng thành công của ông lão. Văn bản thường xuyên lặp lại mệnh đề này bằng ngôn ngữ của người kể và ngôn ngữ của chính Santiago:

- Mình sẽ cố thêm lần nữa.

- Lão cố thêm lần nữa.

- Mình sẽ lại cố thêm.

- Lão lại cố và mọi chuyện vẫn như cũ.

- Mình sẽ lại cố thêm một lần nữa...

Cứ một lần cố ông lão đến gần hơn với chiến thắng. Sau một lần cố con cá thêm một lần thất thế trước lão. Sự thành công của lão và sự thành công của con người nói chung phải chăng là nhờ những nỗ lực không ngừng trong cuộc đời?

Trong chiến thắng của ông lão không chỉ có mỗi sự nỗ lực vượt qua những đau đớn thể xác và tinh thần mà còn có cả quá khứ và tất cả mọi thứ tốt và xấu trong chính con người lão: “Dồn hết mọi đớn đau và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ từ lâu lão mang ra đ­ương đầu với cơn hấp hối của con cá và con cá tiến gần mạn thuyền từ từ bơi nghiêng mõm nó gần như­ chạm vào ván thuyền và sắp sửa v­ượt qua dài sâu rộng ánh bạc vằn tía và bất tận trong dòng n­ước”. Đớn đau tàn lực và lòng kiêu hãnh của quá khứ được đặt liền kề. Sức mạnh của Santiago không phải là sức mạnh của người sung sức mà là sức mạnh của tổng thể những gì đã suy thoái. Thế mà lão vẫn chiến thắng con cá. Đấy chính là giá trị tiềm tàng mà chỉ con người mới có được trên hành trình khẳng định sự sống.

7. “Con cá là vận may của ta”

Trên đây chúng tôi đã đề cập đến việc con cá là giá trị vật chất và tinh thần của ông lão. Bên cạnh đó nó còn là vận may của Santiago. Điều này được chính ông lão thừa nhận. Thì ra ngoài nỗ lực của bản thân thành quả chiến thắng của ông lão còn nhờ vào sự rủi may của số mệnh.

Rất nhiều lần trong tác phẩm ông lão xem việc không bắt được cá trong suốt 84 lần ra khơi là do vận rủi. Không chấp nhận điều đó lão vẫn nuôi hi vọng sẽ bắt được cá lớn. Cuối cùng lão toại nguyện khi câu được con cá khổng lồ. Nhưng con cá kéo lão ra khơi xa. Lão trở thành “con mồi” của con cá. Một sự hoán vị lạ lùng. Ông lão lại trở nên bị động trước con cá. Xem ra khát vọng càng lớn con người càng bị nô lệ vào đó và rất dễ đánh mất đi sự tự do tự chủ của chính bản thân mình. Trong trường hợp này vận may lại trở thành vận rủi. Khi giết được con cá vận may lại trở về với ông lão. Chỉ có điều chẳng bao lâu vận may ấy lại chuyển sang vận rủi.

Cơ sự cũng bắt đầu bằng một hành động trái khoáy. Khi Santiago đâm chết con cá nghỉ ngơi lại sức và tự nhủ: “Bây giờ phải kéo nó vào buộc chặt và tròng một chiếc thòng lọng vào giữa thân và một chiếc nữa vào đuôi để buộc nó vào thuyền”. Rồi lão gọi: “Đến đây cá. Nh­ưng con cá không nhúc nhích. Thay vào đó lúc này nó nằm ­ườn mình trên biển và ông lão phải lôi con thuyền lại chỗ nó”. Một lần nữa ông lão lại mất thế chủ động trước con cá ngay cả khi nó đã chết. Điều này lại báo hiệu vận rủi và không lâu sau đàn cá mập đánh hơi được mùi máu cá đã xông tới tấn công. Cuối cùng khi đưa được thuyền về bến Santiago chỉ còn lại bộ xương cá khổng lồ.

Có thể nói hành trình câu cá của ông lão là ẩn dụ cho hành trình rủi may của kiếp người. Trong đời rủi may luôn cận kề không dễ gì nắm bắt và có thể hiểu hết. Hemingway khắc hoạ hình tượng nhân vật đầy ý chí nghị lực tài năng để vượt qua những rủi may ấy. Hành trình sống của họ hết đi từ điều may rủi này sang điều may rủi khác. Mọi phấn đấu của họ rốt cuộc sẽ cũng không thoát khỏi cái vòng rủi may kia. Và cuối cùng là cái chết - hư vô. Dẫu thế nhân vật của Hemingway không bao giờ chịu khuất phục. Họ sống để khẳng định một điều ngay cả lúc tả tơi nhất của số phận con người vẫn luôn biết ngẩng cao đầu kiên trì chịu đựng (chịu đựng như một con người) biết chiến đấu để vượt qua. Và đây là ý nghĩa sống tích cực nhất cho mọi lẽ sống: “con người có thể bị huỷ diệt chứ không chịu khuất phục” trước mọi thế lực bạo tàn1

 

 



Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/2010

More...